Chiến lược đầu tư P4 (Chính sách tài khóa thâm hụt)

2
1524

Entry trước chúng ta bàn tới cung tiền. Cung tiền được thực hiện bởi chính sách tiền tệ. Nhưng người tiêu tiền nhiều nhất đặc biệt là Việt Nam không phải là người dân, doanh nghiệp mà là chính phủ. Chính phủ có chính sách tài khóa, là chính sách thể hiện việc thu chi hàng năm.

Đa phần các nước trên thế giới đều theo chính sách Tài khóa thâm hụt, có nghĩa là tổng chi bao giờ cũng lớn hơn tổng thu đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Nhật,…

Nguyên nhân các nước theo chính sách này có hai lý do chính:

1. Giống như với doanh nghiệp, để có thể có lợi nhuận lớn thì doanh thu lớn, muốn doanh thu lớn thì vốn chủ sở hữu là không đủ vì vậy phải đi vay.

2. Khi một nước đã theo chính sách tài khóa thâm hụt thì sẽ không có đường lùi nữa mà chỉ có thể điều chỉnh con số thâm hụt được thôi. Nguyên nhân rất đơn giản vì khi người ta đã sướng rồi thì người ta rất khó mà khổ.

Muốn cắt giảm chi thì phải cắt giảm chi tiêu an sinh xã hội, phải giảm lương cơ bản, giảm đầu tư công..Nhưng như ta đã thấy hiện nay, chỉ cần tăng một cái gì đó lên thôi là cả xã hội đã kêu oai oái rồi. Đứng trước hai sự lựa chọn 1. Nhân dân oán thán dẫn tới khả năng bạo động lật đổ và 2. Sự sụp đổ kinh tế có thể xảy ra nhưng không phải ở nhiệm kỳ này thì các nhà lãnh đạo luôn chọn lựa chọn 2.

Vì vậy khi Mỹ chạm trần nợ công thì nhân dân sẽ ủng hộ tăng trần nợ công chứ không phải là thắt chặt chi tiêu. Tương tự khủng hoảng nợ ở các nước châu âu hiện nay, các chủ nợ của Hy lạp thì kêu gọi thắt chặt chi tiêu, người dân thì phản đối đòi nới lỏng để cuộc sống đỡ khó khăn.

Phía dưới là biểu đồ thâm hụt ngân sách từ 2005 tới 2011 của Việt Nam

clip_image024Biểu đồ này cho thấy chúng ta ngày càng chi nhiều hơn thu. Năm 2005 thâm hụt là 40.700 tỷ thì 2011 là 120.000 tỷ. Năm 2012 bội chi là 140.000 tỷ, nghiên cứu cân đối ngân sách tại đây

Chi ngân sách có mối tương quan với tổng sản phẩm quốc nội GDP.

Công thức tính tổng sản phẩm quốc nội GDP ..theo phương pháp chi tiêu của Việt Nam thì GDP = C + I + G + NX. Trong đó C là chi tiêu của người dân, I là chi tiêu của doanh nghiệp. G là chi tiêu của chính phủ, NX là xuất khẩu ròng. Công thức này thể hiện việc GDP tỷ lệ thuận với chi tiêu của chính phủ.

Tuy nhiên một đồng tiêu ra không phải là tạo ra một đồng của GDP mà là còn hệ số ICOR nữa, Bảng dưới là hệ số ICOR của VN so với các nước khác:

IcorTa thấy năm 1996 cứ 2,8 đồng tiêu ra thì thu về 1 đồng GDP, chỉ số có chiều hướng giảm dần và bắt đầu từ 2000 thì hệ số xoay quanh mức 4,8 đồng ăn 1 đồng. Như vậy xét về hiệu quả đầu tư coi như chúng ta giảm một nửa, cũng có nghĩa là để vẫn tạo ra GDP như của năm 1996 thì năm 2012 sẽ phải cần chi gấp đôi.

Nếu như chi nhiều hơn thu thì đương nhiên là phải vay nợ. Biểu đồ nợ:

bieudono

Năm 2010 tổng nợ công là 55,2 tỷ chiếm 54,3%. Năm 2001 tổng nợ công là 11,5 tỷ chiếm 11%. Nợ tăng bình quân 15% một năm, tới 2016 nợ công sẽ lớn hơn 100% GDP (con số Hy lạp khủng hoảng nợ là 133%)

Giống như một gia đình khi tiêu hết tiền tích lũy, thì nợ sẽ bằng tổng chi trừ đi tổng thu. Vì vậy nợ Việt Nam bản chất là tổng của các năm thâm hụt. Cơ cấu nợ sẽ có khoảng 62% nợ nước ngoài và 38% là nợ trong nước.

Nợ trong nước chính là chính phủ phát hành trái phiếu trong nước. Trái phiếu này được trả bằng VNĐ vì vậy về nguyên tắc khi tới hạn thanh toán chính phủ có thể in thêm tiền để trả nợ. Nhưng cơ bản thì cách thức vẫn là phát hành trái phiếu lần sau cao hơn lần trước để lấy tiền thu về trả cho tiền nợ, còn dư ra một khoản để bù đắp thâm hụt.

Nợ nước ngoài chiếm 38% chủ yếu là nợ ODA, hoặc chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nợ nước ngoài. Nợ nước ngoài thì phải trả bằng USD, USD thì chính phủ không thể in được. Chính phủ sẽ phải trả nợ nước ngoài bằng USD vì vậy sẽ có rủi ro nếu như chính phủ không tích đủ USD trong khi vẫn phải bảo vệ giá trị tiền đồng.

Chúng ta và các chính phủ theo chính sách tài khóa thâm hụt có trả được nợ không?

Câu trả lời xuất phát từ việc chúng ta làm gì để giảm thâm hụt rồi tiến tới thặng dư. Chúng ta trả nợ bằng cách tăng hệ số ICOR, tăng quy mô của khối doanh nghiệp để vẫn đảm bảo GDP tăng mà không phải chi nhiều hơn, giảm quy mô của chính phủ xuống vì chính phủ không chỉ riêng VN cứ đụng tới đâu là hiệu quả thấp tới đó.

Nhìn câu trả lời chúng ta sẽ thấy nhãn tiền là chúng ta chẳng bao giờ có thể trả được nợ, mà chỉ có thể ngày càng nợ thêm.Ngay ví như gia đình chúng ta thường xuyên là chi bằng thu, khi thẻ tín dụng ra đời thì chi còn hơn thu.Với quy mô của chính phủ thì vấn đề không hề đơn giản tí nào đấy là còn chưa kể quả bom nổ chậm là các khoản nợ trôi nổi.

Nợ trôi nổi là gì?

Chúng ta đóng lương hưu với khoảng 30% lương cơ bản để mong được hưởng bảo hiểm y tế và nhận lương hưu khi về hưu. Nguyên tắc của chính phủ đối với khoản này là lấy tiền của người sau trả tiền cho người trước.

Vấn đề sẽ trở nên rất lớn nếu như số người sau ngày càng ít đi trong khi số người trước ngày càng tăng lên. Chính phủ sẽ không còn có thể lấy mỡ nó dán nó nữa mà phải chi thực. Tuổi thọ ngày nay ngày càng cao, bệnh tật ngày càng nhiều, lứa tuổi của tôi là lứa tuổi vàng thì cũng có nghĩa là 20 năm nữa tỷ lệ này sẽ thấp dần đi.

 

Comments

comments

2 COMMENTS

  1. “Vấn đề sẽ trở nên rất lớn nếu như số người sau ngày càng ít đi trong khi số người trước ngày càng tăng lên. Chính phủ sẽ không còn có thể lấy mỡ nó dán nó nữa mà phải chi thực. Tuổi thọ ngày nay ngày càng cao, bệnh tật ngày càng nhiều, lứa tuổi của tôi là lứa tuổi vàng thì cũng có nghĩa là 20 năm nữa tỷ lệ này sẽ thấp dần đi.”
    Câu hỏi của em ở đoạn này là:
    1. Tại sao mô hình BHXH này không hiệu quả nhưng vẫn còn được duy trì?
    2. Nguyên nhân gì khiến những người sau ngày càng ít đi? Có phải là do mọi người đang dần nhận ra bản chất của BHXH nên không tham gia?
    3. Tuổi thọ ngày càng cao bệnh tật ngày càng nhiều thì => ảnh hưởng như thế nào tới tỷ lệ người già người trẻ? Và mặt khác có ảnh hưởng gì đến quyết định mua BHXH ở ý trên không?
    4. Nguyên nhân của việc 20 năm nữa tỷ lệ dân số vàng thấp đi?
    Mong anh giải đáp giúp em 4 câu hỏi trên ạ. Trân thành cảm ơn anh!

    • Dear em;
      1. BHXH là một phúc lợi xã hội mà nhà nước phải cung cấp cho người dân; nước nào cũng có. Các nước đều gặp vấn đề này khi mà số người nhận bảo hiểm lớn hơn nhiều so với người nộp bảo hiểm.
      2. Khi mức sống nâng lên thì con người có xu hướng thiên về hưởng thụ; họ không đẻ hoặc đẻ rất ít. Trước đây mỗi cặp vợ chồng có thể có tới 6 đứa con thì nay là 2 đứa và dần dần là 1 đứa. Ví dụ như thời kỳ mà TQ giới hạn 1 người con khiến cho ngày nay 1 cặp vợ chồng sẽ chăm sóc 4 bố mẹ hai bên + 1 hoặc 2 đứa con. Vì vậy TQ cũng đã phải bỏ quy định 1 con rồi; mức sống cao lên tự người ta không muốn đẻ nhiều mà không cần phải có luật pháp can thiệp.
      3. Một người về hưu sẽ nhận lương hưu và chữa bệnh đều đều cho tới chết. Thời gian càng kéo dài thì bảo hiểm càng phải chi trả nhiều. BH sẽ lợi nhất khi một ông 60 tuổi về hưu thì 61 tuổi chết. Để tránh điều này thì chính phủ sẽ nới rộng tuổi nghỉ hưu, mặc dù sẽ làm gia tăng thất nghiệp ở người trẻ nhưng bù lại không phải trả lương hưu cho ông ta (Vì ông ta chưa tới tuổi về hưu).
      Chính phủ quy định việc mua bảo hiểm xã hội cho người lao động là bắt buộc. Nếu em là lao động tự do không làm thuê cho công ty nào thì có hình thức bảo hiểm tự nguyện. Ví dụ như nông dân là người thường sẽ không có bảo hiểm xã hội và chính phủ đang khuyến khích họ theo hình thức bảo hiểm tự nguyên và NN hỗ trợ một phần.
      4. Chiến tranh làm cho người chết rất nhiều và người trẻ không có thời gian sinh con. Thời chiến dân số sụt giảm mà không kịp bù đắp. Khi 1975 hòa bình lập lại tạo ra một cú bùng nổ dân số; số người sinh từ 75 tới 85 rất nhiều. Lượng người này tới tuổi thanh niên vào khoảng năm 2000, lấy vợ sinh con; từ 85 tới 2000 có một khoảng hụt về sinh đẻ. Kết hợp với việc người ta ngày càng đẻ ít đi nữa khiến cho dân số vàng không thể duy trì mãi được mà nó phải kết thúc. Lúc đó lượng người đi làm ít hơn nhiều so với lượng người không đi làm. Em đọc thêm bài này nhé: https://chienluocsong.com/thien-thoi-dia-loi-nhan-hoa/
      VD

LEAVE A REPLY