Chỉ báo Phân phối/Tích lũy (Accumulation/Distribution) là một chỉ báo dòng tiền; nó kết hợp giữa giá và khối lượng nhằm xác định một xu hướng là mạnh hay yếu.
Cách tính của chỉ số A/D
Bước 1: Tính hệ số nhân dòng tiền

Ví dụ với cổ phiếu CEO ngày 6/11/25 có giá cao nhât = 25.300đ; giá thấp nhất = 23.700đ; giá đóng cửa = 24.500đ
MFM = ((24.5 – 23.7) – (25.3-24.5))/(25.3-23.7) = (0.8 – 0.8)/1.6 =0
Do trong ví dụ này giá đóng cửa nằm chính giữa giá cao nhât và thấp nhất nên tử số bằng 0 dẫn tới MFM=0. MFM = 1 khi giá đóng cửa bằng giá cao nhât và MFM = -1 khi giá đóng cửa bằng giá thấp nhất. Như vậy MFM sẽ dao động trong khoảng từ -1 tới 1.
MFM là số dương khi giá đóng cửa nằm chính giữa tới giá cao nhất và là số âm khi nó nằm từ giá đóng cửa tới giá thấp nhất.
Hiểu một cách định tính là sau một ngày chiến đấu của phe mua và phe bán thì ai là người thắng cuộc. Phe mua thắng cuộc khi giá đóng cửa nằm trên trung bình; phe bán thắng cuộc khi giá đóng cửa nằm dưới trung bình.
Bước 2: Tính dòng tiền của phiên
MFV = MFM x Volume
CEO hôm nay có khối lượng giao dịch là 17.887.800
MFV = 0 x 17.887.800 = 0
Với công thức này ta có thể thấy:
- Nếu MFM là số âm thì giá trị MFV của ngày hôm nay sẽ là số âm.
- Nếu MFM là số dương thì giá trị MFV của ngày hôm nay sẽ là số dương.
Bước 3: Cho vào đồ thị
A/D của ngày hôm nay = A/D của ngày hôm qua MFV.
Vì MFV của CEO = 0 nên A/D của ngày hôm nay bằng A/D của ngày hôm qua; đường đi ngang.
Đường A/D sẽ hướng xuống khi MFM là số âm. MFM là số âm khi giá đóng cửa nằm dưới trung bình của giá cao nhất và thấp nhất trong phiên. Biên độ hướng xuống phụ thuộc vào khối lượng.
Đường /AD sẽ hướng lên khi MFM là số dương. MFM là số dương khi giá đóng cửa nằm trên trung bình của giá cao nhất và thấp nhất trong phiên. Biên độ hướng xuống phụ thuộc vào khối lượng.
Sử dụng riêng lẻ A/D
1. Hướng của A/D
Khi A/D tăng dòng tiền đang vào
Khi A/D giảm dòng tiền đang ra
Khi giá tăng kèm theo A/D tăng thì thể hiện nỗ lực đi cùng với kết quả. Giá tăng thật. Ngược lại khi giá giảm kèm theo A/D giảm thì cũng là giảm bền vững.

Khi giá tăng nhưng A/D đi ngang hoặc giảm thì dấu hiệu của đảo chiều khi tiền vào ít nhưng cp vẫn tăng.
2. Phân kỳ giúp xác định điểm đảo chiều
- Trong một xu hướng tăng khi giá tạo đỉnh cao hơn nhưng A/D tạo đỉnh thấp hơn: Có khả năng đảo chiều từ tăng thành giảm.
- Trong một xu hướng giảm khi giá tạo đáy thấp hơn nhưng A/D tạo đáy cao hơn: Có khả năng đảo chiều từ giảm thành tăng
Bollinger Band kết hợp với A/D
Trong entry về Bollinger Band ta biết rằng khi dải BB bị co hẹp lại thì là dấu hiệu cho một sự đột biến nào đó trong tương lai.
Tại thời điểm A, CTD liên tục ở phía trên MA20 và kỳ vọng cho một cú break sắp tới. Nhìn đường A/D ta thấy nó liên tục hướng xuống (mà nếu chỉ nhìn biểu đồ Volume sẽ khó nhận ra). CP đã có một cú break xuống ủng hộ cho chỉ báo A/D đang hướng xuống. Nếu cùng tình huống co hẹp này mà A/D hướng lên thì nó lại củng cố cho khả năng cp break lên.

Chúng ta cũng rât hay bắt gặp trước một cú break lên thường có một cú rũ bỏ trước đó. Trước khi cp phá vỡ biên trên giá thường đẩy về biên dưới. Ngược lại cũng vậy trước khi đâm thủng biên dưới của BB giá cũng có thể đập vào biên trên..
Tại sao giá đóng cửa thường quan trọng hơn giá mở cửa?
- Một NĐT có kế hoạch bán một lượng cp ngày hôm nay. Anh ta theo dõi từ lúc mở cửa để kỳ vọng có thể bán được cp với giá mục tiêu. Càng về cuối phiên anh ta càng sốt ruột và muốn mua cp vì anh cho rằng ngày mai giá có thể còn giảm tiếp; anh ta sẽ không mua được cp như giá của ngày hôm nay. Tương tự một nđt muốn mua cũng vậy; anh ta cũng theo dõi giá cp; càng tới cuối phiên anh ta càng muốn mua. Vì vậy những phút cuối phiên sự tranh đấu của phe mua và bán rất mạnh mẽ.
- Một cp mở cửa với giá cao; nếu như tiếp tục giữ được giá cao đó tới cuối phiên chứng tỏ cp mạnh. Ngược lại một cp mở cửa gia cao nhưng không giữ được giá cao tới cuối phiên sẽ làm chỉ báo đi xuống thể hiện phe bán áp đảo.
- Một cp mở cửa với khối lượng thâp nhưng càng về cuối phiên khối lượng càng cao thì là một tín hiệu tích cực hoặc tiêu cực tùy thuộc hướng đi của giá. Ngược lại một cp mở cửa với khối lượng thấp và thấp tới cuối phiên chứng tỏ cp yếu.
Chỉ báo MFI
Đây là chỉ báo dao động tương tự như A/D nó đó sức mạnh của dòng tiền được tính dựa trên biến động giá và khối lượng trong ngày.
Bước 1: Tính giá điển hình TP
TP = (Giá cao nhất + Giá thấp nhất + Giá đóng cửa)/3
Giá cao nhất là đại diện cho sức mạnh của phe mua trong khi giá thấp nhất đại diện cho sức mạnh của phe bán. Giá đóng cửa là kết quả chung cuộc bên nào đã thắng. Nếu giá đóng cửa sát giá cao nhất là phe mua và nếu nó sát giá thấp nhất thì là phe bán.
Bước 2: Tính dòng tiền
MF = TP x Khối lượng
Bước 3: Xác định dòng tiền dương, âm
Nếu TP hôm nay > TP hôm qua-> Dòng tiền dương
Nếu TP hôm nay < TP hôm qua -> Dòng tiền âm
Sau đó cộng vào dòng tiền dương và âm của 13 phiên trước đó thành một con số. Chiều dài mặc định của MFI là 14 phiên; có thể điều chỉnh. Như vậy ta sẽ có hai con số tổng: Tổng dòng tiền dương và Tổng dòng tiền âm
Bước 4: Tính tỷ lệ dòng tiền MFR và MFI

Dòng tiền cân bằng khi Tổng dòng tiền dương = Tổng dòng tiền âm có nghĩa là MFR = 1 -> MFR < 1 là dòng tiền dương nhỏ hơn dòng tiền âm -> Bên mua mạnh hơn bên bán (và ngược lại)
Khi MFR = 1 thì MFI = 100 – 100/2 = 50 -> MFI = 50 là dòng tiền cân bằng -> MFI > 50 thì bên mua mạnh hơn bên bán và MFI < 50 bên mua yếu hơn bên bán.
Thông qua cách tính của MFI ta có thể hiểu như sau:
- MFI sẽ dao động từ 0 tới 100. Nhỏ hơn 20 là vùng quá bán và > 20 là vùng quá mua
- Khi MFI dốc lên là dòng tiền đang vào. Khi MFI dốc xuống là dòng tiền đang ra.
- Phân kỳ: Giá tăng nhưng MFI giảm hoặc giá giảm mà MFI tăng
Như vậy ta thấy A/D và MFI đều được tính từ giá cao nhất, giá thấp nhất và khối lượng. Điểm khác biệt trong biểu đồ là MFI dao động từ 0 tới 100 trong khi A/D biến theo khối lượng. A/D vì vậy không có vùng quá mua hay quá bán như MFI. RSI thì khác, nó chỉ được tính từ giá đóng cửa mỗi ngày (mà không tính tới biên độ dao động trong ngày). Rõ ràng một cp cùng là tăng nhưng khối lượng khác nhau là khác nhau. Một cp tăng kèm khối lượng tăng bao giờ cũng chứng tỏ sự bền vững hơn một cp tăng nhưng khối lượng thấp.
Phía dưới là VIX dưới góc nhìn của chỉ báo Ichimoku, MACD và MFI:

Dưới góc nhìn chỉ báo Bollinger band 1 độ lệch chuẩn và 2 độ lệch chuẩn cùng MFI. Ta cũng thấy là lúc lên nó không phá vỡ BB1 và khi xuống nó cũng không thể phá vỡ BB1. Trước khi giảm nó cũng có hẹp và làm cú break giả lên trên. Thường những người có kinh nghiệm họ sẽ bán ngay khi break thất bại sau khi co hẹp.

Bollinger band tỏ ra cực kỳ hiệu quả khi nó kết hợp với các chỉ báo khác. Khi giá đang ở biên trên kèm theo chỉ báo tích cực thì củng cổ cho một xu hướng tiếp tục tăng. Nếu bám dải trên nhưng chỉ báo yếu dần chứng tỏ nó đã sắp hoặc đã tới đỉnh; củng cố cho vị thế bán.
Tương tự khi cp trong xu hướng giảm mà bạn muốn bắt đáy thì không thể bắt khi chỉ báo khác vẫn tiêu cực; nó phải chuyển sang tích cực thì mới sắp hoặc đã tới đáy; chuẩn bị cho vị thế mua.
Vix là ví dụ điển hình cho một cp siêu khỏe. Nó tăng từ giá 12.750đ lên 37.470 đồng chỉ trong 34 phiên. Chắc chỉ có lái và người mua rồi không xem bảng mới có thể ăn từ gốc tới gọn. Với Bollingerband ta thấy nó bám biên trên của BB2 và không phá vỡ BB1 trong suốt quá trình tăng của nó.
Khi nó phá vỡ cũng là dấu hiệu đầu tiên của việc cp đã có dấu hiệu tạo đỉnh. Nhưng nó cũng vẫn đi ngang 40 phiên đủ để ai mua thấp phía dưới bán giá cao; đủ để NDT ngủ quên rằng cp đã tăng 3 lần, và họ tiếp tục mua vào hy vọng rằng lại một chu kỳ tăng mới. Kết quả là nđt mua được phía dưới có khi đã mất lãi khi mua lại ở giá cao mà tới giờ chưa bán; những nđt lỡ con sóng tăng tiếc nuối mua vào ở vùng phân phối để rồi ăn lỗ sấp mặt.
Nhìn lại cả quá trình của Vix ta hiểu rằng nếu ta không ăn được lần này thì vẫn sẽ có những lần kế tiếp miễn chúng ta học hỏi được kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của quá khứ. Thị trường là vậy luôn là sự lặp lại; khi bạn nghĩ rằng đây là phân phối người ta sẽ làm bạn tin tưởng rằng đây là tích lũy và khi nó đang tích lũy người ta sẽ làm bạn tin tưởng rằng giá sẽ không bao giờ tăng nữa. Việc này vô cùng dễ nếu bạn có một cái nhìn khách quan với thị trường; không phụ thuộc vào bất cứ broker hay người nổi tiếng nào trên mạng.

Một cp mạnh sẽ luôn tăng trong nghi ngờ vì nếu người ta tin chắc nó sẽ tăng thì họ sẽ không bán ra từ đó không hình thành các bậc thang nđt mới gia nhập. Những nđt mới gia nhập mua ở giá X sẽ kỳ vọng giá tăng X+1; khi họ bán ra mà vẫn thấy cp tăng họ lại mua lại với giá X+2 và kỳ vọng rằng giá lên X+3. Cứ như vậy có khi chỉ từng đó nđt thôi nhưng với sự khéo léo của người dẫn dắt cp sẽ tăng không giới hạn.
Đương nhiên một cp mà không có người cầm trịch thì nó sẽ đi trong vô định; phải có leader. Leader sẽ có một lớp sub-leader hô hào dẫn dắt dư luận. Những nđt mua rồi bán kết cục có khi lại ôm giá X + n; đi cả chặng đường tăng của cp mà lãi chẳng bao nhiêu nhưng ăn nguyên cây giảm. Đó là lý do tại sao cứ mua bán liên tục khả năng thua lỗ cao hơn nhiều so với người kiên nhẫn rõ ràng hai giai đoạn mua nắm giữ và bán dần.
Các cp khi tạo đỉnh rồi đảo chiều thường tạo mô hình 2 đỉnh (chữ M) hoặc 3 đỉnh (vai dầu vai). Một cp khi tạo đáy đảo chiều đi lên thường tạo mô hình 2 đáy (chữ W). Những mô hình này khi thêm Bollinger Band vào sẽ rõ ràng hơn.

Ở mô hình hai đáy, ở đáy thứ hai cho dù có thấp hơn đáy 1 miễn là nó không đâm xuyên qua dải dưới như đáy 1 là dấu hiệu cho khả năng đảo chiều. Tín hiệu xác nhận thêm là sau đó khối lượng tăng hơn trung bình với biên độ tăng hơn trung bình. Ở biểu đồ SSI ở trên, ta thấy giá ở lần đầu không vượt được BB1 nhưng nó bám sát BB1 mà không bị đẩy xuống BB2; và sau đó nó break lên tạo đáy sau cao hơn đáy trước và quan trọng là không vi phạm BB2.
Trong cùng một thời điểm ta không nên sử dụng quá nhiều chỉ báo mà chọn ra bộ chỉ báo phù hợp với cp. Các chỉ báo lớn và phức tạp giúp ta nhìn toàn cảnh như MACD, IchimoKhu, Bollinger Band. Các chỉ báo nhỏ và đơn giản: RSI hoặc MFI (là RSI có tính thêm khối lượng); A/D và RSI. Các mô hình giúp dự đoán đỉnh đáy: Sóng Elliott, Fibonacci.
Các chỉ báo bản chất lấy từ cùng một bộ dữ liệu xác định: Giá (Mở cửa, đóng cửa, giá lớn nhất, giá nhỏ nhất) và khối lượng. Sau đó với các công thức khác nhau thì nhằm tới một khía cạnh cụ thể nào đó vì vậy áp dụng phải phù hợp hoàn cảnh. Chỉ báo động lực Stochastics, Chỉ báo xu hướng MACD, Chỉ báo khối lượng trọng tâm giá mở cửa Accumulation/Distribution, chỉ báo khối lượng trọng tâm vào giá đóng cửa MFI, Volume với đường trung bình, MACD; Quá mua/quá bán RSI.
Một cái bẫy chúng ta cũng dễ mắc phải là chúng ta quyết định kết quả trước sau đó đi tìm lý do sau. Ví dụ khi thua lỗ, bạn mong muốn cp sẽ tăng trở lại vì vậy bạn tìm các chỉ số ủng hỗ cho việc đó mà bỏ qua các chỉ số không ủng hộ. Rồi bạn cũng sẽ tìm được một chỉ báo nào đó ủng hộ cho việc cp sẽ tăng. Điều đúng đắn là bạn có một bộ chỉ báo cùng một vài mẫu hình dùng thành thạo và tuân theo nó một cách có kỷ luật và nhât quán. Nếu nó bảo rằng cp sẽ giảm tiếp; hãy chấp nhận bán và mất tiền (thay vì không muốn mất tiền để rồi còn mất nhiều hơn).