5/5 - (2 votes)

Đầu tư không xa lạ gì với chúng ta vì ai trong chúng ta cũng đang đầu tư một cái gì đó. Bạn tới công ty làm 8 tiếng mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần để nhận được lương vào cuối tháng. Bạn bán thời gian để lấy tiền; chủ DN trả tiền để sử dụng bạn trong khoảng thời gian đó. Tùy thuộc vào vị trí công việc mà anh ta có thể yêu cầu bạn những công việc cần tới sức lực, trí óc hoặc cả hai.

Đầu tư cũng có thể là thay vì bỏ ra 1 tỷ để mua một cái ô tô cho việc đi chơi vào cuối tuần thì bạn gửi tiền đó vào ngân hàng để nhận một khoản lãi suất. Gửi tiết kiệm là một hình thức đầu tư đơn giản nhất của việc dùng tiền đẻ ra tiền. Nó khác với việc bạn dùng sức khỏe và thời gian (vốn hữu hạn) để làm ra tiền.

Tóm lại đầu tư là việc bạn hy sinh hưởng thụ ở hiện tại để nhận về nhiều lợi ích hơn trong tương lai. Số tiền này sẽ phải bù đắp được:

  • Khoảng thời gian đầu tư
  • Lạm phát
  • Rủi ro

Đồng thời bạn sẽ có thể đầu tư theo nhiều cách khác nhau:

  • Bán thời gian của bạn để nhận lương: Người chủ sử dụng thời gian, sức khỏe, trí óc của bạn mang lại càng nhiều giá trị thì anh ta càng trả lương cao.
  • Tiền nhận được từ quán ăn bạn làm chủ. Hay một hình thức kinh doanh hàng hóa dịch vụ nào đó mà bạn làm chủ.
  • Gửi tiết kiệm để nhận về lãi suất hàng năm
  • Tiền từ cho thuê nhà
  • Tiền từ trái phiếu, cổ phiếu
  • Đầu tư vào học hành (của chính bạn và con cái bạn): để bạn và con cái bạn có thể kiếm nhiều tiền hơn trong tương lai.
  • ,,,,

Tựu chung những khoản đầu tư đều là những thứ bạn đã phải bỏ tiền ra để mong nhận được lợi ích lớn hơn trong tương lai. Bạn có một danh mục đầu tư, và bạn phải quản lý nó. Danh mục đầu tư có thể rộng lớn như tất cả các khoản đầu tư của bạn hoặc cũng có thể phạm vi là danh mục cổ phiếu bạn nắm giữ.

Thường chúng ta chỉ chú tâm tới một khoản đầu tư nào đó mà bỏ mặc các khoản đầu tư khác. Ví dụ việc đi làm ở công ty đã tốn hầu hết thời gian, tâm trí vì vậy chúng ta để hết tiền vào ngân hàng cho nhẹ đầu. Chúng ta hầu như không suy nghĩ cách nên dùng tiền đó như thế nào cho hiệu quả. Ví dụ có thể dùng tiền mua bất động sản để cho thuê hoặc đợi giá tăng, mua vàng, mua trải phiếu cổ phiếu.

Những khoản thu nhập từ đầu tư đó có thể lớn hơn nhiều lần so với số lương nhận được. Để rồi chúng ta ngạc nhiên vì ai đó mua một mảnh đất giá 1 tỷ; sau 3 năm nó đã thành 3 tỷ trong khi 3 năm đó ta chỉ kiếm được 700tr từ làm công ăn lương. Đây là bài học mà bản thân tôi và chắc nhiều bạn đã trải qua; hầu như ai mua bât động sản giai đoạn covid giờ thì tài sản đó giờ đã nhân đôi nhân ba so với thời điểm mua.

Mô típ chung là chúng ta cứ cắm đầu vào đi làm; sau khi trừ chi tiêu số dư còn lại gửi tiết kiệm. Tới tuổi về hưu hoặc bị cho nghỉ việc mới nhận ra lãi từ tiền tiết kiệm không bù nổi lạm phát. Chỉ số lạm phát, CPI mà nhà nước công bố 4 tới 5% mỗi năm không phản ánh được đầy đủ hết đước tốc độ tăng của hàng hóa. Những hàng bạn tiêu dùng nhiều nhất lại tăng giá nhiều nhất. 2 năm trước bạn có thể dùng 5000đ để mua vài thứ; nay số tối thiểu phải là 10.000đ; một mớ rau muống hay mớ rau ngót cũng lấy đơn vị 10.000đ làm tối thiểu.

Giờ bạn đã hình dung được tầm quan trọng của Quản lý danh mục đầu tư rồi chứ? Ban đầu bạn có thể hình dung đó là việc của các nhà đầu tư chuyên nghiệp hay các công ty quản lý quỹ; nhưng thực chất nó là việc của tất cả chúng ta. Cứ khi nào mà tổng thu nhập của bạn lớn hơn tổng chi thì sẽ có tích lũy và nhu cầu tối ưu hóa khoản tiền tích lũy này sẽ dẫn bạn tới công việc đầu tư; nó có thể mang lại lợi ích hơn nhiều số tiền lương mà bạn phải bán toàn bộ thời gian hành chính mới có được.

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư:

Tỷ suất lợi nhuận đầu tư trong khoảng gian t = (Giá trị tài sản tại thời điểm t – Giá trị tài sản tại thời điểm t-1)/Giá trị tài sản tại thời điểm t-1.

R=P(t)-P(t-1)/P(t-1)

Trong đó R là tỷ suất lợi nhuận, P là giá trị tài sản

Ví dụ:

  • Gửi ngân hàng 100tr vào 30/6/2025 với lãi suất 5,5%/năm thì tới 30/6/2026 sẽ nhận được 6 triệu đồng. 6% là tỷ suất lợi nhuận của việc gửi tiết kiệm.
  • Mua 100tr cổ phiếu VND vào 30/6/2025 với giá 17.000đ. Tới 30/6/2026 bạn nhận được cổ tức 5% tương ứng 500 đồng và bán cp đó đi với giá 19.000đ. Tỷ suất LN = (500 + 2000)/17000 = 14%
  • Với một danh mục đầu tư cổ phiếu: Giả định ta có 2 cổ phiếu X và Y trong 1 năm đầu tư X mang lại tỷ suất lợi nhuận 10% và chiếm 60% giá trị danh mục; Y có tỷ suất lợi nhuận 20% và chiếm 40% danh mục -> Tỷ suất năm của danh mục = (10% x 0,6) + (20% x 0,4) = 0,06 + 0,08 = 12%.

Ta so sánh giữa các hình thức đầu tư bằng cách so sánh tỷ suất lợi nhuận sinh ra trong cùng một kỳ đầu tư. Tuy nhiên, mỗi hình thức đầu tư sẽ có các rủi ro khác nhau không hẳn như những gì ta kỳ vọng; vì vậy sinh ra việc đo đạc rủi ro.

Một nhà đầu tư chọn một loại hình đầu tư mà có thể bù đắp:

  • Lãi suất nhận được khi gửi tiền vào ngân hàng (nếu không phải là hình thức gửi tiền vào NH)
  • Lạm phát
  • Rủi ro

Tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro thực (Real Risk-fee rate) là lái suất tiền gửi với giả định không có lạm phát và rủi ro thanh toán. Giả định một người có 1 tỷ và anh ta có thể gửi số tiền đó vào ngân hàng và chắc chắn 1 năm sau sẽ nhận được 55 triệu nhưng có thể anh ta sẽ không gửi vì lúc đó anh ta có thể ưu tiên mua một cái ô tô cho nhu cầu hưởng thụ. Có hàng triệu người suy nghĩ so sánh giữa việc gửi tiền và việc hưởng thụ như anh ta. Ngân hàng sẽ định ra lãi suất mà tại đó thu hút được một lượng tiền gửi mục tiêu; anh ta có thể cân nhắc là khoản tiền nhận được khi gửi vào ngân hàng lớn hơn sự hưởng thụ nhận được vì vậy gửi tiền vào NH (thay vì mua ô tô).

Trong nền kinh tế có nhiều hình thức đầu tư khác nhau vì vậy một hình thức bất kỳ cũng chịu sự ảnh hưởng của các hình thức đầu tư khác. Khi anh ta vừa gửi 1 tỷ vào NH bỗng phát hiện ra là thị trường chứng khoán có khả năng tăng mạnh; anh ta sẽ nhận được nhiều tiền lãi hơn, vì vậy anh ta rút ra và đầu tư vào TTCK. Khi nền kinh tế phát triển nhanh trong dài hạn sẽ tạo ra các cơ hội và rủi ro cho các hình thức đầu tư khác nhau; kỳ vọng của NĐT cũng sẽ tăng lên khiến anh ta nhẩy từ hình thức đầu tư này sang hình thức đầu tư khác.

Lãi suất phi rủi ro danh nghĩa (Nomial Risk fee rate) = Lãi suất thực – lạm phát. Khi lạm phát tăng, NĐT mong muốn tỷ suất lợi nhuận cao hơn để bù đắp lạm phát làm ảnh hưởng tới QĐ đầu tư của anh ta. Ví dụ với mong muốn tăng trưởng lớn hơn 8% chính phủ tăng cường bơm tiền khiến cho CPI có thể đạt 4,5% thay vì khoảng 2% như trước đây trong khi tiền gửi tiết kiệm vẫn khoảng 5,5%. Điều này kích thích người dân rút tiền ra khỏi ngân hàng để lựa chọn các kênh khác. Tuy nhiên thực tế tổng tiền gửi ngân hàng của người dân và DN vẫn tăng (hiện khoảng 7,5 triệu tỷ) điều này thể hiện sự khó khăn ở các kênh đầu tư khác.

NĐT kỳ vọng lợi nhuận sinh ra phải bù đắp được rủi ro từ đó sinh ra khái niệm Phần bù rủi ro. Phần bù rủi ro = Tỷ suất lới nhuận yêu cầu của một hình thức đầu tư – Tỷ suất phi rủi ro danh nghĩa.

Phần bù rủi ro

Rủi ro kinh doanh = Thu nhập thực tế – Thu nhập dự kiến

Một DN sẽ có kế hoạch kinh doanh hàng năm với mục tiêu doanh số cùng lợi nhuận. NĐT lựa chọn và mua cổ phiếu của DN với kỳ vọng nhận cổ tức tương ứng cùng chênh lệch giá cp. Tuy nhiên trong quá trình kd các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động làm cho mục tiêu KD không đạt được ảnh hưởng tới việc nhận cổ tức và giá cổ phiếu.

Rủi ro tài chính

Hầu như doanh nghiệp nào cũng sử dụng nợ làm đòn bẩy nhằm tăng lợi nhuận; nó được phản ánh bằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Một DN có tỷ lệ nợ cao càng ẩn chứa nhiều rủi ro có khi tiền làm ra chỉ để trả nợ. Các khoản vay NH cũng là những khoản ưu tiên phải trả của DN vì vậy NĐT thậm chí có thê mất vốn khi DN phá sản.

Hiện nay để kích thich tăng trưởng, chính phủ kiềm chế lãi suất tiền gửi từ đó hạ lãi suất cho vay. Tuy nhiên khi ngân hàng không thể thu hút được tiền gửi hoặc lạm phát quá cao khiến cho ngân hàng nhà nước phải tăng lãi suất tiền gửi từ đó tăng lãi suất cho vay trong khi dự kiến của DN cho phần trả lãi lại ở mức thấp hơn; điều này dẫn tới khả năng lợi nhuận sẽ thấp hơn kỳ vọng; ảnh hưởng tới cổ tức nhận được và giá của cổ phiếu tại cuối kỳ đầu tư của NĐT.

Rủi ro lãi suất

Tiền gửi ngân hàng là hình thức đầu tư an toàn nhất hầu như không có rủi ro nhưng nhiều khi khoản lãi suất nhất được còn không bủ được lạm phát. Lãi suất tiền gửi tăng giảm ảnh hưởng tới cảm nhận của NĐT với các hình thức đầu tư khác. Ví dụ lãi suất hiện nay là 5,5%/năm, nếu nó tăng lên 10% thì rất nhiều người sẽ rút tiền ra khỏi hình thức khác để gửi tiền vào ngân hàng vì lợi ích từ các hình thức đó không đổi thậm chí còn bị giảm đi.

Ví dụ hiện nay sở dĩ chứng khoán vẫn giữ được thanh khoản hơn 20.000 tỷ/phiên nhờ vào việc lái suất thấp. Lãi suất chỉ cần nhích nhẹ hoặc dự đoán sắp tới sẽ nhích lên thì thanh khoản cũng sẽ sụt giảm, giá của cổ phiếu sẽ giảm. Đây là rủi ro lớn nhất hiện nay bên cạnh tình hình đàm phán thuế đối ứng với Mỹ.

Rủi ro sức mua

Một cái ô tô ngày hôm nay giá 1 tỷ nhưng sang năm có thể là 1,1 tỷ vì lạm phát. Một người có thể lựa chọn mua ô tô thay vì gửi tiền vào ngân hàng vì khi gửi tiền ảnh ta nhận được 55tr trong khi cũng cái ô tô đó một năm sau anh ta phải bỏ ra thêm 100tr.

Lạm phát sẽ ảnh hưởng tới tâm lý của nđt. Anh ta có xu hướng hưởng thụ vì cùng với mức hưởng thụ đó ngày mai sẽ phải trả nhiều tiền hơn. Kỳ vọng lợi nhuận nhận được ở các hình thức đầu tư phải tăng lên mới có thể thu hút anh ta đầu tư thay vì hưởng thụ.

Rủi ro chính trị.

Do sự thay đổi về môi trường chính trị, xã hội như thay đổi thể chế, chính sách; chiến tranh, nội chiến,….Cuộc chiến 12 ngày vừa qua giữa Iran và Israel có ảnh hưởng lên các TTCK trong đó có VN. Chính trị càng bất ổn thì NĐT càng hạn chế đầu tư dài hạn mà thiên về phòng thủ. Khi ông Trung lên làm TT, các chính sách của ông rất đột ngột làm cho giá vàng, bitcoin tăng trong khi đầu tư cho sản xuất kinh doanh chững lại.

Rủi ro tỷ giá

Tháng 1/2023 tỷ giá usd còn là 23.000 tới nay 1/7/2025 đã là 26.1000; tăng hơn 10%. DN bán háng trong nước bị khống chế bởi cạnh tranh, nếu anh ta nhập hàng nước ngoài hay nguyên vật liệu về sản xuất để bán tại VN thì sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận.

Nếu DN vay vốn bằng usd thì số tiền phải trả bằng VNĐ cũng tăng lên tương ứng với tỷ giá tăng.

Tất nhiên tỷ giá cũng sẽ ảnh hưởng tới lạm phát khi hàng hóa nhập khẩu tăng kéo theo hàng hóa trong nước cũng tăng theo.

Rủi ro thanh khoản

Một NĐT muốn đầu tư một quán phở. Anh ta lựa chọn địa điểm, mua sắm công cụ dụng cụ, trang trí cửa hàng,….Sau 1 năm kinh doanh, anh ta muốn bán quán phở đi nhưng không ai mua vì vậy khoản đầu tư ban đầu của anh ta gần như mất trắng. Trong khi với một mô hình KD nhỏ, anh ta có thể không tính tới chi phí khấu hao tài sản dẫn tới tính sai khoản lợi nhuận thực tế.

Tiền gửi ngân hàng có thanh khoản cao nhất sau đó tới vàng. Chứng khoán có tính thanh khoản cao như tiền nếu bạn chọn cổ phiếu có lượng giao dịch lớn hàng ngày. Đây là điều mà một nhà đầu tư mới có thể ít để ý; họ mua hàng trăm ngàn một cp peny trong khi khối lượng giao dịch hàng ngày của cp đó chỉ vài chục nghìn. Khi cần bán anh ta phải bán vài nghìn mỗi ngày vì nếu bán nhiều hơn sẽ làm cp đi xuống.

Một cổ phiếu cũng có thể vào diện hạn chế giao dịch hoặc có thể thanh khoản về 0 khi mà nó bị hủy niêm yết.

Một NĐT nhỏ lẻ có thể không quan tâm nhưng các NĐT lớn đầu tư những khoản tiền rất lớn sẽ rất coi trọng tính thanh khoản. CP có tính thanh khoản càng cao càng có sức hút đối với họ; khi thanh khoản của cp đó giảm sút thì họ cũng có xu hướng rút ra khỏi cp đó.

Tóm lại, khi đầu tư ta phải có đủ kiến thức để đánh giá tỷ suất lợi nhuận cùng rủi ro đi kèm của mỗi hình thức đầu tư, mỗi tài sản riêng lẻ của mỗi hình thức đầu tư. Trong một chu kỳ kinh tế, sức hút của mỗi hình thức đầu tư sẽ thay đổi buộc ta phải chuyển đổi giữa các hình thức nhằm thu được lợi nhuận tối đa trên khoản tiền mình có.

——————-

1. Giá trị tương lai của một khoản tiền hiện tại.

Chúng ta có 100.000.000 gửi ngân hàng với lãi suất 6%/năm. Vậy 2 năm sau số tiền sẽ là bao nhiêu?

Lãi đơn: rút lãi ra sau kỳ hạn 1 năm

  • Tính: F= 100tr + 2 x 0,06*100tr = 100tr(1+2*0,06) = 112tr
  • Công thức lãi đơn: F= ( 1+i*n) trong đó F là số tiền tương lai, i là lãi suất, n là thời hạn (tính bằng năm trong trường hợp này)

Lãi kép : Tiếp tục gửi lãi vào vốn mà không rút ra sau 1 năm

  • Tính: F= 100tr(1+ 0,06)2= 100tr x 1,1236 = 112.360.000đ
  • Công thức : F= P(1+ i)m

Ở đây để cho đơn giản hóa công thức ta đang giả định 100tr này gửi kỳ hạn 1 năm và 2 năm sau mới rút. Nếu ta gửi kỳ hạn 2 năm thì lãi đơn hay kép cũng bằng nhau vì sau 2 năm ta mới nhận lãi toàn bộ. Như vậy nếu cùng một mức lãi suất là 6% cho kỳ hạn 1 năm và 2 năm thì gửi kỳ hạn 1 năm sẽ lợi hơn.

2. Giá trị hiện tại của một khoản tiền tương lai

Từ công thức F= P(1+ i)m -> P = F/(1+ i)m

Giả định 5 năm tới bạn cần 100 triệu thì ngày hôm nay bạn phải gửi ngân hàng bao nhiêu tiền với lãi suất cố định 6%/năm?

P= 100tr/(1+0,06)5 = 100tr/ 1,3382 = 74.7tr

Có nghĩa là bạn sẽ phải gửi 74,7tr ở hiện tại vào ngân hàng theo kỳ hạn 1 năm với lãi suất 6%/năm theo hình thứ lãi cộng dồn vào gốc để nhận được 100tr sau 5 năm.

Comments

comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *