Trong một thị trường, các cp thay đổi từ xu hướng giảm sang xu hướng tăng và từ xu hướng giảm sang xu hướng tăng. NĐT cần xác định được các điểm chuyển đổi này để phục vụ cho việc ra quyết định bán hay mua. Mẫu hình W để xác định chuyển từ xu hướng giảm sang xu hướng tăng và mẫu hình M xác định từ xu hướng tăng sang xu hướng giảm sử dụng rất phổ biến
Mô hình W: Chuyển từ xu hướng giảm sang xu hướng tăng

Ví dụ:


Trong cả hai mô hình này ta đều thấy bóng dáng mẫu hình W trong đó đáy sau (B) thấp hơn đáy trước (A).
Về lý thuyết tại vùng đáy sau NĐT sẽ có xu hướng mua ở vùng giá ngang với đáy A nhưng giá lại vẫn cứ giảm khiến nđt cứng đầu nhất cũng phải bán ra
Vậy dấu hiệu nhận biết nằm ở đâu?
Đầu tiên đầu tiên là dải bollinger: Đáy A có thể nằm trong hoặc ngoài dài dưới nhưng đáy B chắc chắn nằm trong dải dưới. Điểm mua sẽ là điểm B gần chạm dải dưới của BB hoặc ta có thể đợi cho giá vượt qua đáy B nhằm xác nhận chính xác mô hình W. Ngoài ra, tại lần tăng đầu tiên nó luôn vượt qua đường trung bình động của BB sau đó giảm trở lại.
Dấu hiệu thứ hai là đương trung bình động MA. Khi vượt qua đáy 1 nó sẽ tăng chạm đường MA bật xuống thể hiện sự nghi ngờ của nđt. Đồ thị của VCG chưa tới MA50 mà là chạm MA25; còn CTD chính xác chạm MA50. Tại lần thứ hai các nđt đều tin chắc nó sẽ vượt qua vì vậy việc vượt qua lần 2 thường rất dứt khoát.
Chúng ta có thể tìm thấy mẫu hình W này ở hầu hết các cổ phiếu:

Trong một xu hướng giảm việc bắt đáy là cực kỳ rủi ro đặc biệt là ở lần thứ nhất. Vì tại đáy 1 một số nđt hy vọng nó tăng nên sẽ mua vào nhưng nó chỉ tăng được một đoạn vì rất nhiều nđt sau đó sẽ muốn cắt lỗ đẩy giá tiếp tục đi xuống. Khi cp hình thành đáy 2 sẽ cần phải xem nó có phải điểm hỗ trợ tốt trong lịch sử không cùng với các dấu hiệu của việc đây đúng là mẫu hình W.
Ngoài mẫu hình W thì còn mẫu hình U khi mà cổ phiếu đi ngang tích lũy một thời gian sau đó mới chuyển sang xu hướng tăng (hoặc mẫu hình V tăng ngược lên). Nhưng mẫu hình U có một đặc điểm là nó sẽ đi ngang rất lâu đến mức mà người ta quên đi sự tồn tại của cp đó. Việc mua trong một pha tích lũy không rõ hồi kết sẽ không tối ưu trong việc sử dụng vốn. Phía dưới HVN đi ngang 3 tháng đã là ngắn.

Mẫu hình M : Chuyển từ xu hướng tăng sang xu hướng giảm
Trên TTCK NĐT qua lại với hai cảm xúc tham lam và sợ hãi nhưng cảm xúc sợ hãi sẽ mạnh mẽ hơn vì vậy mẫu hình W không phải lật ngược lại sẽ thành mẫu hình M mà có sự khác nhau. Tại đỉnh NĐT đang có lãi và mong muốn tiếp tục có lãi vì vậy cp thường không lập tức giảm mà nó tạo ra mô hình 2 đỉnh hơạc 3 đỉnh

Ví dụ:
Đồ thị ngày của CTD

Đồ thị ngày của VND

Dấu hiệu khi hình thành mẫu hình vai đầu vai là vai trái nằm ra ngoài dải trên Bollinger, đầu và vai phải sẽ nằm trong dải trên bollinger mặc dù có thể cả đầu và vai phải đều cao hơn vai trái. Sau khi qua vai phải nó sẽ phá vỡ dải dưới của đường Bollinger; đây là một dấu hiệu nguy hiểm cho thấy nó đã chắc chắn bước vào xu hướng giảm.
Mẫu hình 3 lần đẩy là một biến thể của mẫu hình vai đầu vai và nó thể hiện rõ trong đồ thị VND. Mẫu hình này thể hiện rõ một xu hướng tăng khi đỉnh sau cao hơn đỉnh trước. Đỉnh 1 nằm ngoài dải Bollinger, đỉnh thứ 2 sẽ đạt mức giá cao hơn và chạm vào dải trên, đỉnh thứ 3 sẽ tạo ra mức giá cao mới nhưng không chạm dải trên (khối lượng sẽ giảm dần khi hình thành mô hình)

Mẫu hình M hay W tất nhiên có thể xét theo các khung thời gian khác nhau tùy thuộc vào việc nhà đầu tư trading trong khung thời gian nào. Vì vậy, ta có thể dùng nó để dự đoán cp trong ngắn hạn vài ngày.
Hình bên là VCG ta thấy nó đang tạo đỉnh thứ 2 với đúng mô típ là vai trái nằm ngoài bolllinger và đầu nằm trong bollinger. Ta chờ xem nó có tăng tiếp không hay là giảm về ít nhất là đường MA50.
Một cp trong xu hướng tăng rồi tới lúc nào đó nó sẽ tới đỉnh để sang bên kia sườn dốc. Khi càng tới đỉnh lực tăng sẽ càng yếu dần thể hiện sự thận trọng của cả phe mua và phe bán. Theo dõi một cp bạn đang nắm giữ ở pha đỉnh cũng quan trọng không kém khi bạn kiên nhẫn đợi điểm mua để không mất đi lợi nhuận đã có trước đó.