5/5 - (1 vote)

Tài chính hành vi = Tài chính + Hành vi; đơn giản hiểu là xét hành vi của con người trong lĩnh vực tài chính. Con người thì có phần Con và có phần người, có phần phi lý trí và có phần lý trí. Phần con được hình thành từ khi con người còn là vượn trong khi phần người thì ngắn hơn nhiêu. Vì vậy cho dù rất muốn nhưng con người vẫn thường xuyên có các hành vi phi lý trí và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả trong đầu tư chứng khoán.

1. Hiệu ứng quy mô doanh nghiệp

Mỗi chúng ta thường sẽ vừa miếng với một mức gía cổ phiếu nhất định nào đó. Tiền càng ít thì ta càng thích đầu tư vào cổ phiếu có mức giá thấp tương ứng. Ví dụ bạn có 100 triệu, bạn sẽ thích mua 10.000 cổ phiếu A có giá 10.000 đ hơn là mua 1000 cổ phiếu B có giá đang là 100.000đ. Bản chất giá trị vẫn là 100tr nhưng sở hữu 10.000cp sẽ thích hơn là 1.000cp.

Đứng về giá trị tài sản là như nhau nhưng ở đây nếu bạn tính lợi nhuận trên % hay trên giá trị tuyệt đối lại khác nhau. Khi tính lợi nhuận thu được ta thường tính theo hai cách là giá trị tuyệt đối và giá trị tương đối.

Ví dụ:

Bạn mua 5.000 cp A giá 10.000đ sau đó bán nó với giá 11.000đ thu về lợi nhuận gộp từ chênh lệch là 5.000cp x 1000đ=5.000.000đ. Bạn mua 5000cp C giá 20.000đ sau đó bán với giá 21.000đ thu về lợi nhuận cũng là 5.000.000đ.

Nếu chỉ nhìn giá trị tuyệt đối thì là giống nhau thu về 5tr đ nhưng về tương đối thì khác nhau. CP A lãi 5.000.000/50.000.000 = 10% và CP C lãi 5.000.000/100.000.000đ- 5%.

Nếu bạn thừa tiền mặt thì sẽ rất dễ nghĩ rằng đằng nào thì số tiền tôi không đầu tư cũng nằm nguyên trong tài khoản và hưởng mức lãi không đáng kể. Nhưng thực tế là lợi nhuận ròng của hai khoản đầu tư này là khác nhau do chi phí khác nhau:

Một cổ phiếu đang có mức giá lớn nhìn giá trị tuyệt đối tăng/giảm có vẻ lớn nhưng nhìn về % thì lại rất thấp. Một cổ phiếu đang có mức giá thấp thì tăng/giảm vài trăm đồng thôi nhưng xét về % có khi lại rất lớn.

Một nhà đầu tư có hàng trăm tỷ trong tài khoản rõ ràng là thích giao dịch các cp hoặc là có khối lượng giao dịch hàng ngày lớn hoặc là khối lượng vừa phải nhưng cp có giá lớn. Tiêu chí của anh ta phải là chọn cổ phiếu mà trong trường hợp cần thiết có thể bán toàn bộ trong 1 phiên hoặc vài phiên. Sở hữu 500.000cp A nhưng A chỉ có khối lượng giao dịch hàng ngày chưa tới 200.000cp thì quá rủi ro.

Ở đây bạn phải nhìn tổng giá trị giao dịch thay vì chỉ nhìn số lượng cp. Bạn hoàn toàn có thể giao dịch cp có giá đang rất cao cho dù tiền đang không có nhiều. Cái bạn cần nhìn là tỷ lệ thắng/thua, giá trị nếu thắng/giá trị nếu thua, thời gian nắm giữ. Một cp đang rẻ có thể rẻ thêm trong khi một cp giá cao có thể cao thêm; nếu bạn để cho số tiền mình đang có giới hạn một nhóm cp có mức giá nhất định nào đó là đang giới hạn bản thân.

Bảng cũng cho ta thấy % cho mỗi thương vụ của ta tối thiểu là 0,3%; trường hợp sử dụng margin nữa thì lại càng nhiều. Một nđt mới thường ít nhận thức về phí giao dịch vì vậy họ giao dịch rất nhiều dẫn tới vừa xác suất thua tăng lên vừa phải chịu mức phí lớn.

Ngoài mức lợi nhuận thu được hàng tháng thì tổng kết tháng tôi luôn có mục là thực hiện bao nhiêu giao dịch. Lúc đầu số giao dịch của tôi có thể đến cả trăm, hầu như hôm nào cũng có hoạt động mua bán. Nhưng sau đó tôi nhìn bảng phí phải trả cùng sự chín chắn hơn trong mỗi quyết định mà số giao dịch hàng tháng của tôi giảm dần. Theo sách thì các nđt lão luyện cả năm họ chỉ thực hiện vài giao dịch.

Margin cũng là khoản phí rất lớn nếu bạn không để ý. Trước đây tôi cũng dùng margin vô tội vạ nhưng sau này tôi cũng thống kê cả số tiền mặt trong tài khoản. Ngay khi nó là số âm tôi sẽ cố gắng cho nó về dương càng sớm càng tốt. Ta chỉ dùng margin khi một thương vụ nào đó có xác suất thành công cực lớn.

2. Hiệu ứng thời gian

  • Trong ngày: Nếu ngày hôm trước đóng cửa cp đang tăng thì mở phiên ngày hôm sau cp sẽ tăng tiếp theo đà nhưng sau đó thường sẽ giảm. Ngược lại, ngày hôm trước đang giảm thì đầu phiên ngày hôm sau sẽ giảm theo đà và rồi lại hồi lại. Ta sẽ chọn thời điểm mua hay bán cho phù hợp.
  • Trong tuần: Khi mà thị trường thận trọng thì càng về phiên cuối tuần người ta càng ngại nắm giữ cp qua mấy ngày nghỉ vì sợ tin bất lợi vì vậy lực bán tăng, giá sẽ giảm. Ngược lại khi thị trường hưng phấn và tin tốt ra mỗi ngày thì cuối tuần thường lực mua tăng để rồi đầu tuần lại giảm.
  • Trong năm: Giá của cp biến động theo các báo cáo tài chính quý; một DN có thể chuyển lợi nhuận hay lỗ từ quý này sang quý khác. Hoặc có thể chu kỳ kd của doanh nghiệp; đầu năm bỏ vốn cuối năm thu tiền vì vậy báo cáo quý 1 không thể đẹp như quý 4 được. Mặt khác nếu một DN đưa ra kế hoạch doanh thu 1000 tỷ mà tới hết quý 3 mới dạt 400 tỷ thì khả năng báo cao quý IV sẽ tăng đột biến để hoàn thành kế hoạch.

Khi đầu tư một cp đang trong xu hướng tăng bạn nên nhìn nến tuần thay vì ngày. Một cp trong xu hướng tăng có thể giảm đầu tuần nhưng cuối tuần vẫn đóng cửa với một cây nến tuần xanh. Điều này có thể đánh lừa nđt bám bảng; anh ta có thể mất hàng vào đầu tuần vì lo sợ cp giảm nhưng sau đó có khi lại mua vào cuối tuần vì thấy rằng mình đã đoán sai và muốn nắm giữ lại.

Tâm lý của con người cũng ảnh hưởng tới thị trường. Thứ hai đầu tuần ta thường có tâm trạng không tốt do mới qua 2 ngày nghỉ. Thứ tư là lúc cơ thể đã thích nghi và ta chỉ còn đi làm 2 ngày nữa là lại …được nghỉ vì vậy tâm trạng là tốt nhất. Tâm trạng tiêu cực có xu hướng khuếch đại một tin tiêu cực lên gấp nhiều lần trong khi một tâm trạng phấn khích có thể xoa dịu một tin tiêu cực và khuếch đại một tin tích cực.

Tóm váy lại; nếu bạn đầu tư vào một cp nào đó thì nên xem quy luật thời gian ứng với cp đó như thế nào. Mất bao nhiêu năm để một cp kết thúc một chu kỳ tăng giảm, khi tăng hay giảm nó tạo ra cây nến ngày hay nến tuần như thế nào.

Hai hiệu ứng trên thể hiện sự phi lý trí của con người trong các quyết định, nó quy về một môn khoa học nghiên cứu về lỗi hành vi của con người trong các quyết định tài chính.

Lý thuyết Tài chính hành vi

A/ Có 3 giả định trong lý thuyết tài chính hành vi

1. Nỗi lo tổn thất (loss aversion):

Nỗi đau khi mất 5% giá trị tài sản lớn hơn nhiều so với niềm vui khi được 5% giá trị tài sản. Cảm xúc của chúng ta khi mất mát mạnh mẽ hơn nhiều so với khi có được vì vậy chúng ta có xu hướng hành động thiếu lý trí:

  • Giữ lại cá cp đang lỗ vì bán đi là hiện thực hóa khoản lỗ; ta hy vọng rằng cp sẽ tăng trở lại và ta không bị “mất mát”
  • Bán cp đang có lãi vì lo sợ rằng cp sẽ giảm và ta mất lãi.

Các nđt thường tìm cách hạn chế tồn thất của các khoản lỗ tiềm năng hơn là các khoản lãi tiềm năng. Các khoản lỗ luôn kích thích họ hành động đặc biệt là lúc ban đầu; nhưng khi khoản lỗ vượt quá một mức thị họ có thể đi vào tâm trạng buông xuôi, không đối mặt sự thật.

Chúng ta chú ý là các tổn thất nhiều khi chỉ là trong suy nghĩ. Ví dụ khi quan sát một cp biến thiên theo thời gian thực trong ngày, lúc nó 10.000đ nhưng do dự không mua; sau 1 tiếng quay lại, anh ta thấy nó đã lên 10.300đ. Lúc này trong tâm thức của anh ta xuât hiện ý nghĩ rằng anh ta đã thiệt hại 300đ/cp vì dã không hành động. Vì suy nghĩ này mà anh ta có thể sẽ quyết định ngay lập tức khi giá quay trở lại 10.000đ; chính điều này sẽ sinh ra tâm trạng Fomo (và đương nhiên tay to hiểu điều này)

2. Tính hợp lý có giới hạn (bounded rationality):

Khi nđt đủ năng lực phân tích một cp trên tất cả các góc cạnh thì nđt sẽ có thể đưa ra một quyết định tài chính hợp lý nhưng thực tế do giới hạn về tiếp cận thông tin, khả năng xử lý thông, cảm xúc và giới hạn thời gian nên nđt chỉ có thể đưa ra quyết định đủ tốt dưới góc nhìn của anh ta mà không phải tối ưu nhất.

Do vậy khi đưa ra các quyết định tài chính, nđt chỉ căn cứ vào vào lựa chọn hạn chế và không thể xem xét đầy đủ các lựa chọn có thể xảy ra dẫn tới kém hiệu quả trong các quyết định đưa ra.

Tính hợp lý có giới hạn được hiểu là các NĐT có thể hành động một cách hợp lý, nhưng sự hợp lý chỉ đến một giới hạn nhất định do sự hạn chế của chính bản thân họ trong quá trình thu thập, xử lý các thông tin để đưa ra quyết định.

3. Từ chối rủi ro (risk aversion):

Giả định cho rằng các nđt có thể biết tỷ lệ cược thống kê nhưng từ chối tin vào tỷ lệ cược này. Ví dụ như con số 90% tới 95% nđt thua lỗ trên thị trường thì ai cũng biết nhưng khi tham gia thị trường họ đều tin rằng mình là ngoại lệ. Họ tham gia vào các hành vi có tính rủi ro cao (mà không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm thực sự) và tin rằng lần này mình đúng.

Họ mua các cp đang sắp bị hủy niêm yết, mua các cp có tình hình kd bết bát nhiều năm liền, mua cp của cty mà lãnh đạo hầu như không xuất hiện,…..Một nđt lão luyện sẽ đánh giá đúng mức độ rủi ro và họ sẽ không tham gia vào những cp như vậy.

Tài chính hành vi mang đặc trưng của bốn nhóm hành vi : Sự tự nghiệm (Heuristics), Sự đóng khung (Framing), Cảm xúc (Emotion) và Tác động lên thị trường (Market impact).

1. Sự tự nghiệm:

NĐT thường giải quyết vấn đề và đưa ra các quyết định tài chính dựa trên kinh nghiệm của bản thân họ. Thay vì phải thông qua một mô hình phức tạp thì họ sẽ tìm lối tắt nhanh chóng và cho rằng họ có đủ trải nghiệm để chỉ cần liếc qua một hiện trạng là đã có thể ra được quyết định đúng.

Kinh nghiệm của nđt mỗi người mỗi khác nhau được hình thành từ khi sinh ra tới thời điểm hiện tại (rât dài) trong khi kinh nghiệm trên thị trường chứng khoán thường rât ngắn.

2.Sự đóng khung:

NĐT thường có một tập các lựa chọn (bị đóng khung) và họ có xu hướng chọn một trong các lựa chọn đó. Khi đứng trước các quyết định (mua/bán/giữ) mỗi nhà nđt sẽ có một tập các câu hỏi khác nhau (mỗi nđt bị đóng khung trong một tập câu hỏi) dẫn tới họ đưa ra các quyết định khác nhau trong cùng một thực tế khách quan.

3. Cảm xúc:

Cảm xúc, các nhu cầu trong vô thức, trí tưởng tượng và nỗi sợ hãi thúc đẩy các quyết định của nđt. Trên thị trường nđt thua là vì cảm xúc; cảm xúc biến thiên liên tục dẫn tới việc anh ta mặc dù xác định được mục tiêu dài hạn nhưng lại rẽ sai ở một khúc ngoặt ngắn hạn.

4. Tác động lên thị trường:

Nếu như tất cả các nđt đều đưa ra quyết định sai ví dụ như họ đều tin rằng cp phải giảm trong khi đúng thì cp phải tăng thì có khi cp sẽ giảm thật. Một tập hợp các quyết định sai có thể làm thay đổi một khách quan; biến các qđ sai trở thành qđ đúng.

Vấn đề là trên thị trường có rất nhiều các nđt lý trí; họ sẽ tận dụng cá qđ sai của các nđt phi lý để thu lợi và khiến thị trường trở về lộ trình đúng. Mặt khác về ngắn hạn các nđt có thể qđ sai dẫn tới một cp đáng nhẽ phải tăng thì lại giảm thì xét dài hạn cp sẽ đi về giá trị đúng khi sự lệch chuẩn này đủ lớn để hầu hết các nđt trên thị trường nhận ra sự bất hợp lý của nó.

Nếu một thị trường thực sự hiệu quả sẽ khó có thể tạo ra các khoản lợi nhuận lớn được. Giá một cp không bao giờ đúng bằng với giá trị thực tế của nó. Một nđt lý trí sẽ mua cp ở giá thấp hơn giá trị thực (trong hiện tại hoặc tương lai) càng thấp càng tốt và đợi giá trở về giá trị thực hoặc gấp nhiều lần giá trị thực.

Trên thị trường cần tồn tại 3 điều kiện sau thì lý thuyết hành vi sẽ dự báo rằng việc định giá cp sai là hiển nhiên : Tồn tại hành vi không hợp lý, Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống, Giới hạn khả năng kd chênh lệch giá trên thị trường.

1. Các hành vi không hợp lý

Hành vi không hợp lý của nđt xuất hiện khi họ không phân tích và xử lý thông tin họ có được một cách đúng đắn, từ đó dẫn tới các kỳ vọng sai lệch về giá của cp trong tương lai. Họ cũng gặp phải những “lệch lạc trong nhận thức” (Cognitive biasses) do chủ quan vào kinh nghiệm hay nhận thức của bản thân họ. Hành vi không hợp lý được phân tích kết hợp bởi hai trường phải tâm lý học là Tâm lý nhận thức (Cognitive psychology) và Tâm lý hành vi (Behavioral pssychology)

2. Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống

Nếu một nđt có hành vi không hợp lý thì hành vi của anh ta không thể ảnh hưởng tới thị trường. Nhưng nếu một tập hợp các nđt cùng thực hiện một hành vì không hợp lý giống nhau thì hành vi không hợp lý lúc này đã mang tính hệ thống trên thị trường và có thể kéo dài trong nhiều ngày.

Một tập hợp nđt đủ lớn thực hiện hành vi không hợp lý vì dụ ồ ạt bán ra cp từ ngày này sang ngày khác làm cho cp về mức giá bât hợp lý. Hành động của nhóm đó sẽ tạo ra hiệu ứng bầy đàn khiến cho các nđt lý trí khác dần đần bị lung lay và cũng hành động cho dù hành động đó càng ngày càng không hợp lý.

Tương tự khi cp tăng; một nhóm nđt thực hiện hành động bất hợp lý là mua vào một cp khi giá của nó đang ngày càng xa giá trị thực,, P/E ngày càng cao. Hành động đó sẽ khiến các nđt lý trí khác ban đầu rõ ràng thấy nó bất hợp lý và không hành động nhưng khi nhìn cp tăng từng ngày và khi những người xung quanh đang khoe lãi; họ thực hiện hành động bất hợp lý tại lúc mà giá của cp đã cực kỳ bất hợp lý.

3. Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng khi tồn tại một định giá sai làm giá lệch khỏi cân bằng thì lập tức sẽ có nđt phát hiện ra và thực hiện hành vi thu lợi thông qua bán hoặc mua nhờ vậy cp đó trở về với trạng thái cân bằng.

Theo trường phái tài chính hành vi, thị trường sẽ tồn tại hai dạng sau:

  • Định giá sai sẽ thường xuyên xảy ra và các nđt có thể kinh doanh chênh lệch giá
  • Định giá sai sẽ không thường xuyên xảy ra nhưng thị trường không thể kinh doanh chênh lệch giá được. Ví dụ giá cân bằng là 10.000đ, khi giá về 9.500đ thì sự chênh lệch giá này rõ ràng nhìn thấy nhưng không ai biết chắc được đó có phải là biên cuối chưa, rất có thể giá sẽ về tiếp 9.000đ và vì vậy anh ta sẽ không mua vào cho dù nhìn rõ sự chênh lệch.

Sự chênh lệch này có thể tồn tại nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm mà không được điều chỉnh.

Việc xử lý thông tin có thể đúng nhưng các cá nhân có xu hướng đưa ra các quyết định kém hợp lý trong việc sử dụng thông tin đó. Bới vì hầu hết các quyết định tài chính đều bị chi phối bởi cảm xúc, các nhu cầu vô thức, trí tưởng tượng, nỗi sợ hãi và đặc điểm tâm lý của con người. Nó có thể chia ra làm 3 loại: Lý thuyết triển vọng và định khung (Prospect theory and framing), Sự tự nghiệm (Heuristics) và các sai lệch khác.

Những thành kiến và sai lệch về nhận thức này nằm sâu trong tâm lý của họ và là một phần bản chất con người:

1. Tự tin thái quá:

Khi nđt quá tin tưởng vào những suy nghĩ, lập luận, đánh giá chủ quan của bản thân. Khi họ tin rằng cp đó là một cp tốt thì họ sẽ tìm mọi thông tin, cơ sở để chứng minh cho nhận định, đánh giá cũng như quyết định của mình tạo ra sai lầm trong đánh giá.

2. Hai xu hướng các nđt thường gặp:

  • Quá tự tin vào dự đoán: đánh giá thấp những rủi ro và dựa vào sự tin cậy quá nhỏ. Ví dụ anh ta tin rằng doanh thu của DN sẽ tăng với chỉ kỳ vọng rằng thị trường bất động sản năm tới sẽ thoát khỏi đóng băng.
  • Quá tự tin một cách chắc chắn: nđt quá tự tin vào đánh giá của mình từ đó dẫn tới giao dịch quá nhiều và không đa dạng hóa danh mục đầu tư.

3. Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán:

Dựa vào kinh nghiệm sẽ có qđ nhanh và hiệu quả nhưng đó là với người đủ kinh nghiệm. Họ lặp đi lặp lại một hoàn cảnh nào đó đủ nhiều để dự đoán được tương lai sẽ xảy ra.

4. Thiên lệch trong tình huống điển hình:

NĐT có xu hướng quan tâm tới những tình huống điển hình ngắn hạn và áp nó cho các tình huống khác chỉ vì nó có đặc điểm tương đồng với tình huống điển hình. Ví dụ có cp sẽ tăng khi có thông tin về chia cổ tức nhưng không phải cp nào cũng thế.

5. Báo thù:

NĐT phản ứng chậm với các thay đổi trong ngắn hạn, nhận định đánh giá của họ chủ yếu dựa vào diễn biến giai đoạn dài trước đó. Nó ngược lại với ý trên khi nđt phản ứng với những điển hình ngắn hạn.

6. Định nghĩa hẹp:

Thay vì phân tích vấn đề trong một bối cảnh toàn điện, nđt lại cô lập vấn đề trong một khuôn khổ hẹp, tách biệt và cố gắng đưa ra các quyết định tối ưu trong phạm vi hẹp đó.

7. Tính toán bất hợp lý:

Chúng ta có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải kết hợp chúng lại trong một tập hợp. Một quyết định riêng lẻ có thể đúng trong một phạm vi hẹp nhưng khi kết hợp với các quyết định đơn lẻ khác lại sai. Ví dụ chúng ta cần nhìn nhận các cp trong danh mục như một tập hợp bổ trợ cho nhau thay vì rời rạc từng cp.

1. Khả năng tiếp cận và có sẵn của thông tin

Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) cho rằng thị trường hiệu quả về mặt thông tin. Mọi cá nhân đều có thể tiếp cận thông tin sẵn có và kết quả là các cá nhân không thể lợi dụng các thông tin đầu tư này để tìm kiếm mức lợi nhuận bất thường.

Tuy nhiên Khả năng tiếp cận và Sẵn có là không thể. Chúng ta cho dù có biết chỗ tiếp cận thông tin thì cũng không đủ thời gian và năng lực để khai thác. Mặt khác “sẵn có” cũng không đúng, một nđt cá nhân nhỏ lẻ không thể tiếp cận đầy đủ thông tin bằng người nội bộ hay tổ chức được. Thông tin “sẵn có” đến với chúng ta thì nó đã qua bao nhiêu tầng lớp rồi.

Tài chính hành vi cho rằng thị trường chứng khoán là không hiệu quả về mặt thông tin bao gồm cả khả năng tiếp cận và tính sẵn có.

2. Tính thống nhất trong đầu tư

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng các cá nhân tham đầu tư là đồng nhất họ có chung đặc điểm, thái độ, phương pháp và phạm vi đầu tư. Các đặc điểm khác như kinh nghiệm, giới tính, gia đình và bạn bè không có tác động đến quyết định đầu tư của họ.

Tài chính hành vi cho rằng chính các đặc điểm khác mới là các yêu tố chính ảnh hưởng tới các quyết định của nđt.

3. Đầu tư và cảm xúc

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng cảm xúc không có vị trí trong quyết định của nđt. Tài chính hành vi cho rằng chính cảm xúc là yếu tố cốt lõi và nó tạo ra một thị trường không luôn luôn đúng.

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng luôn tồn tại một cơ chế để thị trường về trạng thái cân bằng hiệu quả, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Khi có sự chênh lệch cho dù nhỏ thì nđt lý trí sẽ phát hiện ra và tận dụng đẩy nó về trạng thái cân bằng như cũ.

Nhưng Tài chính hành vi lại chỉ ra tình huống các nđt “hợp lý” nhiều khi không chiến thắng được các nđt “bất hợp lý” và điều đó tạo ra một thị trường không hiệu quả.

Các nđt “hợp lý” có thể lợi dụng sự “bất hợp lý” để có thể mua hay bán cp với giá họ có lợi hơn. Nói chung thì nđt “hợp lý” có thể thua nếu như không phân tích hành vi của các nđt “bất hợp lý”. Ngược lại, nđt “bât hợp lý” thường không quan tâm tới hành vi của nđt “hợp lý” vì họ đang coi hành vi của họ là “hợp lý”.

Comments

comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *