Tư duy lại tương lai (P1: Nhìn lại lịch sử, định hình tương lai)

0
165

Bất cứ một hiện tượng nào cũng tồn tại hai trạng thái ở hai thái cực ngược chiều nhau. Đã có vui thì có buồn, đã có căm ghét thì phải có yêu thương, đã có xấu phải có đẹp,…Các phương thức cũng vậy, đã có tư duy tổng hợp thì phải có tư duy phân tích, đã có tập trung thì phải có phân tán, đã có đơn ngành thì phải có đa ngành,…

Khi một thái cực mất đi thì thái cực còn lại cũng không tồn tại vì đơn giản là nó không thể định nghĩa.

Lịch sử cũng thể hiện sự dịch chuyển của mình trong tất cả các phạm trù từ thái cực này sang thái cực khác vì không có cái gì gọi là đúng hoàn toàn, chỉ có khái niệm là có phù hợp với hoàn cảnh lịch sử hay không mà thôi.

Muốn dự đoán về tương lai thì cần phải nhìn về quá khứ. Đầu tiên hãy xét tới mô hình bán hàng:

– Thời công xã nguyên thủy người nông dân tự trồng trọt, chăn nuôi để phục vụ cho chính bản thân gia đình họ. Không có trao đổi, không có tiền.

– Khi có dư thừa người nông dân tập trung vào một nơi nhất định vào một ngày nhất định để có thể trao đổi với người khác. Lúc đó chợ truyền thống ra đời. Khi đó mỗi người bán sẽ phục vụ một số mặt hàng nào đó, có vô số người bán và cũng có vô số người mua. Chúng ta có hình thức bán hàng kiểu phân tán

– Vào thế kỷ 19 bắt đầu hình thành bán hàng kiểu tự chọn, nơi chỉ có một người bán. Chúng ta có hình thức bán hàng kiểu tập trung. Ở Việt Nam, giai đoạn đầu là các cửa hàng tạp hóa nơi mà giữa hàng hóa và người mua bị cách nhau bởi khoảng cách của người bán. Sau đó hình thức tự chọn mới ra đời để người mua có thể chạm vào sản phẩm thoải mái.

– Vào thể kỷ 20 bắt đầu hình thành bán hàng kiểu đại siêu thị, là kiểu tự chọn với quy mô lớn hơn nhiều.

– Cuối thể kỷ 20 cho tới nay là hình thành các đại Trung tâm mua sắm nơi mà cái gì cũng có. Khách hàng chỉ cần tới một trung tâm là có thể thỏa mãn cho mọi nhu cầu của mình từ bé tới lớn. Chúng ta thấy mô hình bán hàng ngày càng tập trung hơn.

– Ngày nay là sự xuất hiện của bán hàng qua mạng, giờ đây mô hình bán hàng chuyển sang phân tán với rất nhiều người bán khác nhau cho các mặt hàng khác nhau. Và có lẽ mô hình này sẽ là mô hình của tương lai cho đến khi hoàn cảnh thay đổi dẫn tới xuất hiện một mô hình khác.

Về mô hình kinh doanh:

1- Thời công xã nguyên thủy, con người tự cung tự cấp. Họ không cần bất cứ yếu tố đầu vào nào và cũng chẳng cần bất cứ yếu tố đầu ra nào cả. Mọi thứ đầu vào họ lấy từ tự nhiên, tự tiêu thụ và thải vào tự nhiên.

2- Vào thời kỳ đồ sắt, bắt đầu có hàng hóa dư thừa do năng suất lao động tăng, xuất hiện nhu cầu trao đổi. Lúc đó bắt đầu có sự  chuyên môn hóa, người làm cuốc chỉ làm cuốc, khi cần rau họ đổi cuốc lấy rau.

3- Bắt đầu kỷ nguyên của máy hơi nước TK17 sau đó là động cơ diezen, xuất hiện các nhà máy lớn. Nhà máy thì phải cần các yếu tố đầu vào là đất đai, nguyên vật liệu, vốn, nhân công… và bán hàng hóa của họ ở thị trường đầu ra. Nhờ tăng về quy mô nên chi phí sx thấp hơn, mang lại lợi nhuận cao hơn.

4- Hàng hóa sx ra nhiều đến mức mà người dân một nước chẳng tiêu thụ hết được, xuất hiện nhu cầu trao đổi với các nước khác. Cột mốc đánh dấu cho việc này là thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam smith vào thế kỷ 17. Tất nhiên là việc trao đổi buôn bán giữa các nước đã có từ trước đó rất lâu rồi nhưng chủ yếu ở mức độ nhỏ như con đường tơ lụa từ Á sang Âu (thế kỷ thứ 2 trước công nguyên). Các học thuyết về thương mại quốc tế sau đó giúp các nước định hình rõ hơn về việc mình nên tập trung vào sx cái gì.

Tại giai đoạn 4 này thì ta thấy là toàn bộ quy trình sx hàng hóa đó vẫn nằm gọn trong một nước

5. Sự hình thành các công ty đa quốc gia đã giúp cho dòng tư bản được lưu chuyển giữa các nước được thuận lợi hơn. Các công ty đa quốc gia xây dựng trung tâm nghiên cứu ở nước A, khai thác nguyên liệu ở nước B, đặt nhà máy ở nước C và bán vào nước D.

Việc quyết định đặt mỗi bộ phận nằm ở quốc gia nào phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối của quốc gia đó. Tuy nhiên vẫn chỉ là một ông chủ cho cả chuỗi từ đầu tới cuối. Các công ty trở nên rất lớn với hàng vạn nhân viên có hàng chục quốc tịch.

6. Sự chuyên môn hóa được đẩy lên cao nhất khi hình thành các chuỗi sản xuất tầm thế giới mà nếu như nước nào không được tham gia vào chuỗi sẽ rất thiệt thòi.

Máy bay Boeing, Airbus, máy tính, máy photo, máy in, ô tô, xe máy,….mọi thứ phức tạp đều là tập hợp của nhiều linh kiện khác nhau được làm ra bởi các nhà sản xuất khác nhau của các nước khác nhau.

Người tiêu dùng lại chỉ tập trung tiêu dùng một số thương hiệu nổi bật vì vậy nếu không được nằm trong chuỗi thì chẳng còn cơ hội nào. Cũng giống như việc hình thành các đại siêu thị sẽ giết chết các cửa hàng bán lẻ bên đường vậy.

Kỹ năng quản trị giờ đây là làm sao lắp ghép được các mắt xích vào với nhau để tạo ra sản phẩm/dịch vụ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng. Mỗi mắt xích do một ông chủ nào đó nắm giữ và nằm tại một nước nào đó. Về lý thuyết thì để xây dựng chuỗi chỉ cần nắm giữ 1.Nghiên cứu phát triển và 2.Hệ thống quản trị chuỗi.

chuoi cung ung 2

Trên sơ đồ trên, các công việc trong nhóm 1 sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn so với nhóm 2 vì vậy các công ty lớn giờ đây thu hẹp lại vào các công việc nhóm 1 thay vì ôm đồm cả chuỗi sản xuất của nhóm 2.

Về Chiến lược sản phẩm/Dịch vụ:

Thời đầu, người nông dân sẽ trồng rất nhiều loại rau quả để bán; nhà máy cũng sx nhiều loại hàng hóa để bán. Một người nông dân hay công nhân sẽ làm từ công đoạn đầu tới công đoạn cuối. Giá thành đương nhiên sẽ đắt do chi phí cao.

Tiếp đến là thời đại của chuyên môn quá cao với việc Henry Ford cho ra đời công nghệ sản xuất xe hơi hàng lọat vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Thời gian này là thời đại của chuyên môn hóa cao độ, mỗi người chỉ làm một việc duy nhất như vặn vít chẳng hạn, nhờ thế họ tận dụng được đường cong kinh nghiệm.

Với một sản phẩm duy nhất, có được cả lợi thế đường cong kinh nghiệm lẫn lợi thế về quy mô nên giá thành một sản phẩm sẽ rất rẻ, nhờ vậy mà cạnh tranh được với các sản phẩm khác.

Đường cong kinh nghiệm hay Lợi thế của sự học hỏi

duong cong kinh nghiem

Đường cong kinh nghiệm thể hiện việc chi phí trên mỗi đầu sản phẩm sẽ giảm dần cho tới mức tối thiểu không thể vượt qua khi một người nào đó chỉ chuyên môn hóa vào một công việc duy nhất.

 

 

 

 

Khi Tổng cung hàng hóa ngày càng vượt xa Tổng cầu, người tiêu dùng có hàng ngàn lựa chọn cho mỗi vấn đề của họ. Nếu như một doanh nghiệp chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất thì khi thị hiếu khách hàng thay đổi thì công ty sẽ nhanh chóng rơi vào phá sản.

Để giải quyết việc này, các công ty bắt đầu đa dạng hóa sản phẩm, sau đó là đa dạng hóa ngành kinh doanh. Nhờ vậy khi một sản phẩm đang ở kỳ thâm nhập cần nhiều chi phí thì có một sản phẩm khác đang ở kỳ tăng trưởng để bù đắp cho chi phí; một ngành hàng đang ở kỳ tăng trường sẽ bù đắp cho một ngành hàng khác đang ở kỳ suy thoái.

Các doanh nghiệp giờ đây lại quay lại với việc đa dạng hóa mà vốn dĩ tổ tiên ta đã như vậy rồi và tương lai cũng sẽ như vậy.

<còn tiếp>

Comments

comments

LEAVE A REPLY