Thông minh tài chính (P5: Dầu mỏ và các loại tài sản khác)

1
586

Giá dầu như chỉ số đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Khi giá dầu tăng có nghĩa rằng tiêu thụ dầu tăng xuất phát từ sản xuất gia tăng, nền kinh tế đi lên. Khi giá dầu giảm có nghĩa là sản xuất suy giảm. Lý do đơn giản là muốn sản xuất và vận chuyển thì phải cần dầu.

Giờ đây, do khả năng tác động vào cung dầu yếu (bởi các nhà sx không thể nói chuyện được với nhau) nên dầu tăng hay giảm phụ thuộc vào việc tăng giảm nhu cầu sản xuất của thế giới là chủ yếu. Nó không trực tiếp gây ra tăng trưởng hay suy giảm của kinh thế giới nhưng nó lại gián tiếp phản ánh điều đó.

Các nhà sản xuất dầu thừa hiểu rằng dầu là hữu hạn, nếu họ liên tục sản xuất và bán với giá lợi nhuận mỏng như vậy thì thật thiếu thông minh. Nhưng họ đang mắc phải một số vấn đề sau:

  • Một số quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào dầu mỏ, ngừng bán dầu là chết đói.
  • Thà họ bán lỗ để công nhân có việc làm, có ngoại tệ thu về còn hơn. Các chi phí khai thác dầu của họ được thanh toán bằng đồng nội tệ trong khi họ bán dầu thu được ngoại tệ.
  • Tranh dành thị phần.
  • Chính trị

Vì mỗi nước có những nỗi lo riêng của mình nên họ không thống nhất được với nhau nhằm điều chỉnh lượng Cung dầu. Từ thị trường độc quyền tập đoàn giờ đây dầu đã gia nhập vào thị trường cạnh tranh hoàn hảo.

Ngoài ra với sự phát triển của năng lượng thay thế như điện mặt trời, các xe chạy bằng năng lượng điện,…trực tiếp làm giảm lượng cầu thì còn đánh vào mặt tâm lý các nsx rằng nhu cầu dầu sẽ còn giảm trong tương lai và giá dầu còn có thể xuống thấp nữa.

Xét về dài hạn vài chục năm thì dầu khó có thể bị đánh mất vị thế của mình mà mấy trăm năm qua nó đã giữ. Dù sao trữ lượng dầu cũng sẽ suy giảm theo thời gian, thu nhập người dân tăng khiến họ mua sắm nhiều hơn kích thích sản xuất. Thế giới càng bất ổn thì càng thúc đẩy giá dầu tăng, các nước có xuất khẩu dầu mỏ là các nước đầu tiên sẽ bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn. Nếu như nhà bạn và nhà thằng bên cạnh đều bán dầu, nếu bạn và họ không thể thống nhất với nhau về sản lượng bán ra thì việc tốt nhất bạn có thể làm là cho gia đình nhà đó bất ổn khiến nó không thể bán dầu nữa. Các nhà chính trị rất giỏi nhìn bên trái trong khi đánh bên phải.

Mỗi ngày thế giới tiêu thụ 72 triệu thùng dầu:

entry trước ta thấy mối quan hệ giữa các chỉ số kinh tế vĩ mô như GDP, lạm phát, lãi suất thất nghiệp với giá dầu. Entry này ta sẽ tìm hiểu mối tương quan giữa giá dầu và giá các tài sản khác trong danh mục đầu tư.

 

1. Dầu và vàng

Giá vàng tăng giảm vì nhiều nguyên nhân, cần hẳn một vài entry để nói về chủ đề vàng. Trong mục này tôi chỉ nói về mối liên quan giữa vàng và dầu, một ông là vàng thật, một ông là vàng đen.

Tăng trưởng kinh tế kéo theo nhu cầu dầu tăng vì vậy giá dầu tăng. Tăng trưởng kinh tế cũng đồng nghĩa với việc người dân có niềm tin vào nền kinh tế, khi đó nhu cầu nắm giữ vàng của họ sẽ giảm vì vậy giá vàng giảm.

Nếu giá dầu tăng không xuất phát từ bên cầu (tăng trưởng kinh tế) mà xuất phát từ bên cung, khi các nhà sản xuất dầu cắt giảm sản lượng thì lúc đó nền kinh tế sẽ đi chậm lại. Người dân mất niềm tin vào nền kinh tế, họ tăng nhu cầu giữ vàng vì vậy giá vàng tăng.

Nếu loại bỏ yếu tố cảm xúc thì việc một ai đó nắm giữ vàng sẽ căn cứ vào việc phân tích lợi ích giữa các loại tài sản nắm giữ. Nếu họ thấy tiền nhận được từ lãi suất lớn hơn tiền nhận được từ đà tăng của vàng thì người ta sẽ bán vàng ra lấy tiền gửi vào ngân hàng. Ví dụ như khi FED tăng lãi suất thì giá vàng giảm còn tuần trước khi FED giữ nguyên lãi suẩt thì giá vàng tăng

Biểu đồ dưới là mối tương quan giữa dầu và vàng. Trong khi dầu có xu hướng tăng lên, có lúc lên tới 30% thì vàng lại có xu hướng giảm đi. Dầu trong 1 năm qua tăng là nỗ lực từ phía bên cung mà không phải xuất phát từ biến động của Cầu. Việc biến động của giá vàng chủ yếu phụ thuộc vào mấy lần tăng lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ FED

Biểu đồ dưới thể hiện giá vàng và dầu trong 20 năm qua. Năm 2008 do khủng hoảng kinh tế nên cầu dầu giảm, giá dầu đi xuống nhưng sau đó hồi phục tăng dần. Giá vàng từ thời điểm đó cũng tăng rất nhanh vì người dân cảm thấy bất an sau khủng hoảng.

2. Dầu và Cổ phiếu

Cổ phiếu các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán.

Trong entry kinh tế học P32 tôi có giải thích về ảnh hưởng của giá dầu đối với từng loại doanh nghiệp có liên quan, bạn nên tham khảo bài này sau khi đọc xong entry này để có cái nhìn chi tiết hơn.

Thị trường chứng khoán là nơi tập hợp của các doanh nghiệp trọng yếu của một nền kinh tế nên nó phản ảnh sức khỏe của nền kinh tế. Khi thị trường giá lên cũng đồng nghĩa với kinh tế đi lên, cần nhiều dầu hơn để sản xuất, vận chuyển vì vậy giá dầu sẽ tăng (do cầu tăng).

Khi giá dầu tăng thì trên thị trường chứng khoán, các công ty có đầu ra là dầu sẽ được hưởng lợi vì bán giá cao hơn vì vậy cổ phiếu của nó sẽ tăng. Các doanh nghiệp có đầu vào là dầu càng nhiều thì lợi nhuận của nó càng bị giảm đi vì vậy cổ phiếu của nó sẽ giảm hoặc không tăng nhanh bằng cổ phiếu của công ty có đầu ra là dầu.

Chúng ta chú ý rằng giá dầu phụ thuộc hoàn toàn vào cung cầu mà không phụ thuộc vào chi phí sản xuất ra mỗi thùng dầu. Chi phí sản xuất ra mỗi thùng dầu gần như cố định, giá dầu càng tăng thì lợi nhuận của họ càng tăng.

Biến động của giá đầu được các nhà đầu tư theo dõi rất sát. Trong bản tin tài chính khi nói về thị trường chứng khoán thường sẽ đi kèm theo thông tin về tình hình giá dầu ngày hôm đó

Ghi chú : S&P 500 là 500 doanh nghiệp có vốn hóa thị trường lớn nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ. Tương tự như VN30 là 30 doanh nghiệp có vốn hóa lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam

3. Dầu và chứng khoán phái sinh

Khi bạn mua một món hàng nào đó thì bạn được nhận hàng thực, người bán nhận được tiền thực. Có thể việc giao hàng hay trả tiền ở những thời điểm khác nhau nhưng hàng hóa đó đã rất rõ ràng. Đó là thị trường cơ sở.

Giả sử tôi là ông chủ của Thế giới di động dự định phân phối hàng nông sản của Bầu Đức thông qua hệ thống phân phối của mình thì tôi và Bầu Đức có thể có các loại hợp đồng sau:

  • Bầu Đức thông báo với tôi là tuần tới nông sản sẽ sẵn sàng được bán. Tôi và Bầu Đức ký hợp đồng thống nhất giá cả, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận hàng. Đó là hợp đồng mua bán bình thường.
  • Giả sử 4 tháng tới mấy quả xoài của Bầu Đức mới sẵn sàng. Lo ngại nếu tới lúc đó mới đàm phán giá với Bầu Đức thì có thể giá sẽ cao vì vậy tôi thuyết phục Bầu Đức ký một hợp đồng thường được gọi là hợp đồng nguyên tắc. Thỏa thuận với nhau ở giá X đồng, tới thời điểm giao hàng mặc cho giá xoài trên thị trường tăng hay giảm thì giá vẫn là X đồng. Bầu Đức sẽ thu được lợi ích là an tâm về đầu ra và giá. Tôi thì ngủ ngon vì gần như chắc lãi do không có rủi ro đầu vào. Hợp đồng đó đúng tên gọi chuyên ngành gọi là hợp đồng kỳ hạn (bình thường ta hay gọ là hợp đồng nguyên tắc)
  • Nếu tôi đưa hợp đồng ký hạn đó lên thị trường chứng khoán thì có thể ông Vinmart thích thú với hợp đồng đó và mua lại hợp đồng đó với giá mà tôi mong muốn. Đó gọi là hợp đồng tương lai.
  • Tôi và Bầu Đức có thể ký với nhau một hợp đồng trong đó tôi có quyền mua xoài trước một thời điểm X trong tương lai. Tới thời điểm đó nếu thấy lợi thì tôi mua, nếu không thì tôi không mua. Đó gọi là hợp đồng quyền chọn.

Giờ tôi đóng vai trò là Bầu Đức, bên bán:

  • Lúc Bầu thế giới di động (từ giờ gọi là Bầu Tài) ngỏ lời mua nông sản của tôi thì các cây xoài trên cánh đồng của tôi chưa có nhú ra quả nào cả. Thực tế là tôi đã bán hàng mà tôi chưa có (gọi là bán khống). Đến lúc cần giao hàng chẳng may quả không nhú ra, lúc đó tôi phải nộp phạt cho Bầu Tài hoặc phải mua hàng ở đâu đó để trả. Trên thị trường chứng khoán phái sinh, một nhà đầu tư có thể vay cổ phiếu X để bán đi, tới thời hạn trả anh ta lại mua cổ phiếu X đó để trả nợ. Anh ta kỳ vọng rằng thị trường sẽ đi xuống vì vậy anh ta bán ở đỉnh nhưng mua  trả nợ ở đáy.
  • Hợp đồng giữa tôi và Bầu Tài được đóng gói đẹp đẽ và được phân ra thành các gói nhỏ niêm yết trên TTCK phái sinh. Một ông bầu nào đó có nhu cầu (để mua rẻ bán đắt hay là có nhu cầu nông sản thật) sẽ mua cái hợp đồng đó. Khi tôi bán cái hợp đồng đó cho ông Y đó thì nó trở thành hợp đồng giữa ông Y và bầu Tài.

Hợp đồng kỳ hạn rất phổ biến. Ví dụ như trước các nhà máy đường chỉ cam kết miệng với bà con  từ đầu mùa là sẽ thu mua mía khi thu hoạch. Tới lúc thu mua thì họ bắt ép bà con phải bán giá rẻ. Ngược lại, có khi bà con không bán mía cho nhà máy vì bán chỗ khác cao hơn. Để cho cả hai bên an tâm thì đơn giản nhất là hai bên ký một hợp đồng kỳ hạn quy định rõ sản lượng và giá. Hợp đồng được ký tại thời điểm mà thậm chí người ta còn chưa cắm cây mía giống xuống đất.

Việc kinh doanh trên thị trường phái sinh có đòn bẩy tài chính cực mạnh. Ví dụ như khi tôi mua nhà trả góp theo tiến độ xây dựng có diện tích 100 mét vuông bắt đầu từ tháng 2/2017 và giao nhà vào tháng 2/2019. Hợp đồng giữa tôi và bên bán là hợp đồng tương lai có giá xác định là 20tr/m. Tới thời điểm hiện tại tháng 7/2017, giả sử giá mỗi mét ở đó đã lên tới 30tr. Ông X mua căn nhà đó của tôi với giá 30tr x 100m = 3 tỷ. Thực tế lúc đó tôi chưa hề bỏ ra 2 tỷ mà mới chỉ đóng có 200 triệu vì vậy ông X sẽ trả tôi = 3 tỷ – 2 tỷ + 200 triệu = 1,2 tỷ. Lợi nhuận tôi đạt được sau 5 tháng đầu tư là gấp 6 lần.

Bất cứ một loại hàng hóa nào cũng có thể mua bán theo hình thức trên. Khi các hợp đồng mua bán đó được đóng gói, chia nhỏ thì nó có thể được niêm yết trên thị trường chứng khoán phái sinh.

Nói dài dòng thế để thấy chứng khoán phái sinh có liên quan tới yếu tố dự báo tương lai. Khi một chứng khoán phái sinh của một ngành nào đó bị giảm giá thì chứng tỏ rằng người ta có dự cảm tiêu cực về hàng hóa liên quan tới nó và ngược lại.

Giá dầu phản ánh trực tiếp lên thị trường chứng khoán (thị trường cơ sở) ở khoảng thời gian quanh hiện tại. Nó ảnh hưởng lên thị trường phái sinh thông qua việc người ta dự báo giá dầu ở tương lai xa, đặc biệt là các ngành có liên quan tới đầu ra liên quan tới dầu hay có đầu vào mà dầu chiếm tỷ trọng lớn.

 

4. Dầu và Thực phẩm

Dầu dùng để sản xuất phân bón, vận chuyển nông sản vì vậy giá dầu tỷ lệ thuận với giá lương thực. Khi giá dầu tăng thì chi phí sản xuất tăng -> Giá bán thực phẩm tăng.

Trên các biểu đồ ta sẽ thấy có những biến động đột ngột vào năm 2008. Năm 2008 là khủng hoảng kinh tế thế giới xuất phát từ bong bóng nhà đất Mỹ. Qua khủng hoảng đồ thị đi xuống do kinh tế suy thoái. Nếu tìm hiểu sâu thì bong bóng đó bị thổi lên nhanh bởi các công cụ phái sinh như ở mục trên tôi có giải thích.

Giá dầu hiện nay chỉ loanh quanh dưới mức 50 usd trong khi có lúc đã lên tới tận 190 usd thùng vào năm 2009. Đó là tin tốt cho an toàn lương thực thế giới.

Tương tự đối với các hàng hóa có đầu vào là dầu khác thì giá dầu tăng sẽ kéo giá các hàng hóa đó tăng.

Đứng ở vị trí người tiêu dùng, bạn có thể đơn giản nghĩ rằng dầu càng thấp thì càng tốt chứ sao, giá xăng sẽ rẻ hơn, giá hàng hóa sẽ rẻ hơn,..mọi thứ sẽ rẻ hơn. Vậy tại sao phải lo lắng khi giá dầu xuống thấp? Bản thân dầu giảm là tốt, nó chỉ không tốt vì nó phản ánh một nền kinh tế đi xuống (thất nghiệp gia tăng sẽ khiến thu nhập giảm xuống; có nghĩa là đầu vào của người dân có thể còn giảm nhiều hơn nhiều so với cái lợi ở đầu ra do giá hàng hóa giảm )

Tóm lại, giá dầu là một thông số rất quan trọng. Bạn hãy chú ý tới nó, tìm hiểu mối tương quan của nó với các chỉ số vĩ mô, với các loại tài sản khác. Thông thường một bản tin khi nói tới giá dầu tăng hay giảm cũng nói luôn tác động của nó tới thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ, thị trường vàng,  thị trường ngoại hối, thị trường nhà đất,…

 

 

Cuộc chiến giá dầu

Trong thời gian gần đây, cuộc chiến giá dầu được bắt đầu từ tháng 11/2010, gồm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ tháng 11/2010 đến tháng 9/2014, với vũ khí là giá dầu cao và giai đoạn hai bắt đầu từ tháng 10/2014 đến nay chưa chấm dứt với vũ khí là giá dầu cực thấp để hiện thực hóa chiến lược “ngập lụt thị trường dầu”.

Khi đưa giá dầu thô về giá trị đồng USD 2016, trong giai đoạn đầu, giá dầu trung bình luôn cao hơn 90 USD/thùng do OPEC giảm sản lượng tạo ra thiếu hụt nguồn cung, làm điêu đứng các nước nhập khẩu dầu ròng, trong đó có Mỹ, nước tiêu thụ chiếm đến ¼ nguồn cầu dầu toàn cầu. Còn các nước xuất khẩu dầu ròng, nhất là các thành viên Trung Đông của OPEC, thu được siêu lợi nhuận. Chạy theo lợi nhuận, các nước OPEC ngoài Trung Đông không những không tuân theo chủ trương giảm sản lượng chung của toàn khối mà còn âm thầm tăng khai thác, cộng với sản lượng gia tăng của Nga, Na Uy, Brazil, Mexico, đưa đến trạng thái cung vượt cầu ngày càng lớn trên thị trường dầu mỏ.

Bắt đầu từ tháng 7/2014, giá dầu bắt đầu sụt giảm theo cơ chế thị trường khi cán cân cung cầu mất thăng bằng. Lần này, Arabia cùng các đồng minh trong OPEC ở Trung Đông thay đổi chiến lược, không quyết định giảm sản lượng để giữ giá dầu cao mà tăng sản lượng để giá dầu sụt giảm nhanh, kéo dài, dùng giá dầu thấp để chống lại các địch thủ kinh tế – chính trị khác, đặc biệt là Mỹ, Nga, Iran, nhằm các mục tiêu dài hạn khi nguồn dầu thế giới cạn kiệt tự nhiên và trước mắt là giành lại thị phần trong ngắn hạn, dựa trên sản lượng dồi dào và giá thành thăm dò-khai thác thùng dầu rất thấp của họ, chỉ bằng khoảng 1/3-1/2 so với giá thành của các nước sản xuất dầu khác.

Trong khoảng thời gian này, Mỹ lặng lẽ phát triển ngành dầu khí phi truyền thống do mình nắm độc quyền công nghệ thăm dò – khai thác, từng bước phục hồi sản lượng nội địa, giảm tình trạng nhu cầu dầu phụ thuộc nhập khẩu quá cao, sau khi sản lượng dầu khí truyền thống đạt điểm đỉnh năm 1976 và chuyển dần sang thời kỳ cạn kiệt. Việc Mỹ giảm nhập khẩu dầu Trung Đông là một thiệt hại rất lớn cho OPEC. Còn việc Mỹ phát triển công nghiệp dầu khí phi truyền thống (dầu khí phiến sét, dầu khí trong đá cát rắn chắc…) với trữ lượng dự báo ở Mỹ cũng như trên toàn thế giới rất lớn, lại là dầu ngọt chất lượng cao, thì cấu trúc thị trường dầu khí trong tương lai sẽ thay đổi cơ bản, rất bất lợi cho các nước giàu tài nguyên dầu khí truyền thống. Tuy nhiên, giá thành khai thác loại dầu này hiện nay còn khá cao, thường hơn 50 USD/thùng. Nếu giá dầu xuống dưới 40 USD/thùng thì phần lớn các mỏ phi truyền thống trong điều kiện hiện nay trở thành phi kinh tế và ngành công nghiệp này ít nhất sẽ chậm phát triển nếu không nói là phá sản. Vì vậy, ngăn chặn việc đưa dầu khí phi truyền thống Mỹ và của các nước khác ra thị trường là một mục tiêu không hề nhỏ của Arabia Saudi.

Nga là nước tiêu thụ dầu khí không cao nhưng rất giàu tài nguyên dầu khí, nếu chú ý đến con số trữ lượng xác minh hiện có cộng với diện tích có khả năng chứa dầu khí ở vành đai Bắc Cực thuộc Nga chưa được thăm dò còn rộng mênh mông. Hiện nay, nguồn thu từ xuất khẩu dầu khí chiếm đến hơn 50 % ngân sách nhà nước Nga, trong lúc nền kinh tế và an ninh Nga đang đứng trước không ít khó khăn. Giá thành thăm dò – khai thác thùng dầu Nga cũng rất cao do công nghệ chưa hiện đại, điều kiện địa chất – địa lý phức tạp. Do nhu cầu tài chính cao nên giá dầu càng thấp, Nga lại càng cần khai thác nhiều dầu, sản lượng từ hai năm nay đã vượt Arabia Saudi, nên Nga đang giữ vị trí đứng đầu trong thế giới dầu khí. Về chính trị, Nga đang ủng hộ Iran, Syria là hai đối thủ của Arabia Saudi, nên việc chống Nga của Arabia Saudi là rất dễ hiểu.

Iran có trữ lượng dầu xác minh đầu năm 2016 đạt trên 157 tỷ thùng, chỉ đứng sau Arabia Saudi (265,8 tỷ thùng) và là đối thủ của Mỹ, Tây Âu cũng như các nước Hồi giáo theo dòng Sunny do Arabia Saudi đứng đầu. Trước chiến tranh Iraq-Iran, sản lượng dầu của Iran đạt gần 4 triệu thùng/ngày, nhưng sau đó sụt giảm triền miên do phương tây bao vây, cấm vận, cơ sở hạ tầng và thiết bị công nghệ khai thác dầu không được thay đổi, càng ngày càng lạc hậu, hư hỏng nên sản lượng năm 2015 chỉ còn khoảng 2,8 triệu thùng/ngày. Từ năm 2013, căng thẳng giữa Iran và phương tây bắt đầu giảm, sang năm 2015, các điều kiện cấm vận được dần dần dỡ bỏ phần lớn, sản lượng năm 2016 tăng lên 3,1 triệu thùng/ngày và tuyên bố sẽ phục hồi nhanh mức sản lượng để đạt mức 4,6 triệu thùng/ngày trong thời gian tới. Vì giá thành khai thác dầu Iran thấp nên lợi nhuận từ dầu xuất khẩu vẫn đảm bảo ngay khi giá dầu thấp dưới 40USD/thùng, vì vậy, Iran đang thu hút mạnh các công ty dầu khí quốc tế đến đầu tư và các nước tiêu thụ dầu lớn đua nhau ký các hợp đồng mua dầu dài hạn với Iran. Điều này có nghĩa là thị phần của Arabia Saudi trên thị trường thế giới sẽ giảm, vị thế của Iran ở Trung Đông sẽ tăng. Như vậy, việc Iran trở nên hùng mạnh là điều không mong muốn của Mỹ và cả của Arabia Saudi, mặc dù Iran là thành viên của OPEC.

Diễn biến giá dầu trong thời gian từ cuối năm 2014 đến tháng 8/2016 cho thấy, Arabia Saudi và các đồng minh thân cận của họ trong OPEC rất kiên quyết đưa giá dầu xuống thấp, đến mức họ tin là các đối thủ không thể chịu đựng nổi. Tháng 6/2016, Arabia Saudi đã tăng sản lượng lên 10,55 triệu thùng/ngày và tăng xuất khẩu lên mức 7 triệu 456 nghìn thùng/ngày, cao nhất tính từ 2012. Sang tháng 7, sản lượng tăng thêm 12.000 thùng/ngày và tiếp tục tăng để vượt lên trên mức sản lượng Nga, trong lúc hai bộ trưởng dầu mỏ Nga và Arabia Saudi đã đồng ý đóng băng sản lượng, nhưng chủ trương này chưa được triển khai.

Việc thực hiện chiến lược “ngập lụt thị trường dầu” của OPEC đã đưa giá dầu trung bình từ 115 USD/thùng năm 2014 xuống 27 USD/thùng vào tháng 1/2016.Kết quả là không chỉ Nga và các nước sản xuất dầu nhỏ bị thiệt hại nặng nề mà cả OPEC cũng mang vạ. Nền kinh tếVenezuela dựa vào dầu bị sụp đổ nhanh nhất ,tiếp đến là Algeria, Nigeria.

Do thiết bị khai thác và cơ sở hạ tầng không được nâng cấp, lại bắt ép mỏ phải khai thác vượt quá công suất dự phòng, dẫn đến các tầng chứa bị ngập nước, nên hệ số suy giảm sản lượng ở các mỏ trưởng thành của Venezuela giảm hàng năm từ 15% – 25%. Sản lượng dầu nhẹ khai thác ở vành đai Orinoco giảm, không đủ để trộn với dầu nặng dẫn đến thu nhập từ xuất khẩu dầu thô nặng, với giá cực thấp, làm cho PDVSA không đủ tiền để tái sản xuất, trả cổ tức, nên nợ và nạn thất nghiệp càng tăng, không những đe dọa ngành dầu mà còn ảnh hưởng xấu đến các ngành sản xuất khác, gây ra mất an ninh xã hội nghiêm trọng.

Algeria là một thành viên lớn của OPEC, dầu khí chiếm đến 95% giá trị hàng hóa xuất khẩu và đóng góp vào ngân sách nhà nước đến 75% nên giá dầu thấp ảnh hưởng nặng nề đến GDP, đẩy lạm phát tiền tệ lên cao và nền kinh tế càng suy thoái.

Thâm hụt ngân sách của Arabia Saudi cũng bị báo động và chính phủ nước này đã phải áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng, hạn chế đầu tư và chi tiêu công, giảm ngân sách y tế, giáo dục, tiền lương, phúc lợi xã hội trong điều kiện toàn dân trước đó quen sống trong giàu có nhờ tiền trợ cấp từ ngân sách. Hàng ngàn người Đông nam Á làm thuê ở nước này mất việc phải quay về nước mà không nhận được lương trong 8 tháng đầu năm 2016. Cùng với mức sống xuống thấp, với sự kích động của các phe phái hồi giáo cực đoan, các tệ nạn xă hội, cũng như hoạt động khủng bố, mất an ninh gia tăng trong cả khu vực Trung Đông.

Nước Nga mở lối thoát bằng chiến lược xuất khẩu dầu khí hướng về thị trường châu Á, trước nhất và chủ yếu nhất là về Trung Quốc, sau đó là Ấn Độ, nhưng kết quả còn rất hạn chế, vì nhiều nguyên nhân, trong đó đầu tư cho vận chuyển bằng đường ống rất tốn kém và nhiều rủi ro. Thị trường truyền thống của Nga trước đây là Tây Âu, nay cũng trở nên khó khăn, liên quan đến khủng hoảng chính trị-an ninh giữa NATO và Nga chưa được hạ nhiệt. Mặc dù giá dầu thấp đến mức sản xuất không có lãi, nhưng sản lượng Nga trước tháng 4/2016 đã đạt mức 10,85 triệu thùng/ngày. Để tăng giá dầu xuất khẩu, từ tháng 4/2016, Nga đã đơn phương đóng băng sản lượng của mình.

Với Mỹ, giá dầu thấp có tác động tiêu cực lớn đối với các công ty dầu trong lĩnh vực thượng nguồn, nhưng vì các công ty này đều là tư nhân, hoạt động đa ngành, nên họ chuyển hướng đầu tư rất nhanh, giúp hạn chế thiệt hại đáng kể. Trong thăm dò – khai thác, đầu tư hướng vào hoạt động tìm kiếm – thăm dò chuẩn bị cho trữ lượng dự trữ và vào sáng tạo – thử nghiệm khoa học – công nghệ tiến bộ phục vụ cho ngành dầu khí phi truyền thống và vùng nước sâu, cũng như cho tăng cường thu hồi dầu ở các mỏ truyền thống để đón đầu sản xuất khi thị trường cho phép. Công tác phát triển mỏ và khai thác chỉ tiến hành ở các mỏ có giá thành thùng dầu thấp dưới mức 20USD để đảm bảo mang lại lợi nhuận khi giá dầu thấp kéo dài. Nói cách khác, Mỹ luôn áp dụng chiến lược tiết kiệm/để giành tài nguyên dầu khí trong nước, tăng dự trữ trữ lượng ở nước ngoài, nâng cao chất lượng công nghệ – kỹ thuật dầu khí Mỹ trong các giai đoạn giá dầu thấp như trước đây. Bên cạnh đó họ tăng cường hoạt động lọc – hóa dầu, sản xuất LNG để tăng hàng hóa xuất khẩu, vì bản chất của các hoạt động này là dịch vụ kỹ thuật, khi giá nguyên liệu tăng thì giá bán sản phẩm sản xuất ra cũng tăng, miễn là có thị trường tiêu thụ chắc chắn nên luôn bảo đảm lợi nhuận.

Nước Mỹ là nước nhập khẩu dầu ròng với khối lượng lớn, nên giá dầu thấp tạo điều kiện rất tốt để phát triển các ngành kinh tế khác, vì giá thành sản phẩm sẽ rẻ, sức cạnh tranh cao, nhất là các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và sử dụng nhiều sản phẩm của công nghiệp dầu khí, làm nguyên liệu đầu vào. Lịch sử kinh tế Mỹ cho thấy khi giá dầu cao thì GDP Mỹ không tăng, còn khi giá dầu càng thấp thì GDP tăng càng mạnh. Hiện nay nước Mỹ nhập khẩu dầu chua, dầu nặng (giá thấp) vì các nhà máy lọc dầu Mỹ có khả năng lọc nhiều loại dầu khác nhau và xuất khẩu dầu ngọt (giá cao) cùng các sản phẩm lọc – hóa dầu cũng như khí hóa lỏng (LNG), LPG, Condensate, Olefine… cho rất nhiều thị trường nước ngoài. Do đó, có thể nói mục tiêu của Arabia Saudi dùng giá dầu thấp để đánh nền công nghiệp dầu khí Mỹ đã thất bại và càng đẩy OPEC mất quyền kiểm soát thị trường giá dầu.

Qua bức tranh bối cảnh thị trường dầu được trình bày trên đây chúng ta thấy cuộc chiến giá dầu lần này chứa đựng những mâu thuẫn đan xen rất phức tạp và không một ai tham gia có thể đạt được toàn bộ các mục tiêu của họ. Vì vậy, trong tuần đầu tháng 10/2016 thỏa thuận giảm sản lượng giữa các nước OPEC, giữa OPEC và các nước sản xuất dầu lớn ngoài OPEC đã được chấp nhận trên văn bản trong hội nghị cuối tháng 9/2016 để hạn chế mức chênh lệch quá lớn giữa cung và cầu hiện nay, nhưng các nhà bình luận thị trường dầu mỏ thế giới đều chưa dự báo kết quả của thỏa thuận này sẽ như thế nào, vì kỷ luật trong nội bộ OPEC rất lỏng lẻo. Tuy nhiên sau khi công bố thông tin nói trên giá dầu thế giới tăng vượt ngưỡng 50USD/thùng, mở ra hy vọng cho ngành dầu khí phục hồi trong năm 2017-2018.

Kết luận lại, lời đáp cho câu hỏi giá dầu thấp có hại hay có lợi cho nền kinh tế của mỗi quốc gia tùy thuộc vào vị trí của họ trong thị trường dầu khí thế giới. Với các nước giàu tài nguyên dầu khí và là nước xuất khẩu ròng thì giá dầu thấp gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng. Dù về chiến thuật có thể thay đổi khác nhau trong từng thời gian thì mục tiêu chiến lược của họ vẫn là duy trì hoặc đẩy giá dầu lên cao và mục tiêu này trùng hợp với mục tiêu của các công ty thăm dò – khai thác dầu khí. Còn với các nước không có tài nguyên hoặc nghèo tài nguyên dầu khí và là nước nhập khẩu dầu ròng thì giá dầu thấp mang lại lợi ích toàn diện cho nền kinh tế. Đối với khối nước này, chiến lược đầu tư của họ tập trung nhiều hơn cho kinh doanh thông qua phát triển các hoạt động hạ nguồn trong nước, bao gồm lọc dầu, chế biến khí đốt, hóa dầu, dịch vụ các loại và phân phối cũng như sử dụng lợi thế tài chính, công nghệ, nhân lực kỹ thuật, đầu tư vào các hoạt động thượng nguồn vào những mỏ có khả năng có lãi cao ở nước ngoài, với mục đích thu lợi nhuận. Giải pháp hạn chế khai thác dầu khí trong nước để tiết kiệm tài nguyên nhằm đối phó giá dầu khí cao trong tương lai dài hạn được áp dụng rộng rãi trong các nước có trữ lượng dầu khí không nhiều, hoặc nhu cầu tiêu thụ lớn. Kinh nghiệm quản lý nhà nước của Mỹ đối với ngành dầu khí trong giai đoạn giá dầu thấp có lẽ là bài học quý cho nhiều quốc gia ngoài khối OPEC. Và cuối cùng, khi nhân loại chưa tìm ra nguồn năng lượng nào mới đủ sức thay thế dầu khí, với mức độ công nghiệp thì các chu kỳ giá dầu thấp – giá dầu cao còn tiếp nối nhau do cơ chế thị trường chi phối hoặc do những thủ đoạn giành quyền lực thống trị kinh tế – chính trị của các thế lực cường quyền dàn dựng. Đối với nước ta, một nước nhập khẩu dầu ròng, khi xây dựng chiến lược/ quy hoạch dầu khí, cần đặt trong bối cảnh ấy để không bị động khi giá dầu thăng giáng bất ngờ.

NangluongVietnam Online

Comments

comments

1 COMMENT

LEAVE A REPLY