Thống kê kinh tế (P1:Kiến thức cơ bản)

0
1816

Nhìn tổng thể trong gần 2 tháng qua có 7 chủ đề đã được đề cập. Các chủ đề này thuộc về nhóm ngành kinh tế; chúng không thay thế hay đối lập nhau mà giống như một cái xương cá; có cái lớn và những cái nhỏ bổ trợ cho nhau. Mỗi chủ đề đóng một vai trò nhất định:

1. Kinh tế học:  Cách mà các tác nhân kinh tế vận động?

Bao gồm kinh tế vĩ mô và vi mô; sở dĩ tôi ghép lại làm một chủ đề vì hai thứ này có liên quan tới nhau chặt chẽ. Kinh tế học là kiến thức nền tảng của kinh tế giúp ta có cái nhìn tổng thể từ cái to tới cái nhỏ. Kinh tế học ngày nay được coi như là công cụ; có nghĩa là nó không đứng riêng biệt mà phải áp dụng vào một chuyên ngành khác vì vậy ta sẽ thấy Kinh tế xây dựng, quản lý nhà nước về kinh tế, kinh tế khai khoáng, kinh tế môi trường….

Sở dĩ như vậy là hiện nay có ngành nào là không cần tới kinh tế? Cho dù học và làm bất cứ chuyên ngành nào cũng đụng tới kinh tế và phải ứng dụng nó. Vì vậy thay vì tự mày mò nghiên cứu thì nên nghiên cứu có bài bản gốc rễ của vấn đề.

2. Tài chính và tiền tệ: Tiền vận động như thế nào trong nền kinh tế?

Bao gồm hai phần tài Tài chính và Tiền tệ. Tiền tệ là chỉ các vấn đề liên quan tới tiền; còn tài chính là một hệ thống trong đó tiền tệ được đi từ tay người này tới tay người khác. Tiền được ví như máu của nền kinh tế, vì vậy tài chính tiền tệ nghiên cứu sự tạo ra, vận động của máu; yếu tố sống còn của nền kinh tế.

3.Thương mại quốc tế: Tại sao các nước lại buôn bán với nhau?

 

Nghiên cứu trao đổi giữa bên trong và bên ngoài. Lý do các nước cần nhau, phụ thuộc vào nhau. Nghiên cứu sự vận động của hai yếu tố đầu vào sản xuất chính là vốn và lao động

4. Kinh tế môi trường: Làm sao để sử dụng môi trường một cách hiệu quả nhất?

Nghiên cứu cách thức nhà nước sử dụng kinh tế để bảo vệ môi trường. Cách người ta đưa ra các loại thuế và phí; Nó cũng giúp ta nhìn nhận một cách tổng thể các lợi ích và chi phí xã hội thay vì chỉ nhìn đơn lẻ từng doanh nghiệp hay từng người tiêu dùng.

5. Kinh tế phát triển :Làm sao để phát triển bền vững?

Nghiên cứu con đường mà các nước đang phát triển phải đi qua một cách tất yếu. Hiểu được sự vận động không thể tránh khỏi của một thực thể mà ta đang là một thành phần trong đó sẽ giúp ta nhìn nó với sự am hiểu hơn. Kinh tế phát triển cũng mang lại cho ta một cái nhìn về sự phát triển bền vững với các trụ cột Kinh tế, Xã hội và Môi trường.

6. Luật Kinh tế: Các tác nhân kinh tế phải tuân theo quy tắc gì?

Không ngành nào là không có liên quan tới kinh tế, các tác nhân trong nền kinh tế tương tác với nhau cũng bằng kinh tế. Luật Kinh tế quy định về những điều không được làm, được làm; nó là quy tắc mà các tác nhân phải tuân theo khi phối hợp cũng như khi tranh chấp. Vì vậy Luật kinh tế có lẽ là môn quan trọng đầu bảng.

7. Kinh tế lượng: Làm sao để định lượng các biến số kinh tế?

Các lập luận phát biểu định tính chỉ giúp lòe thiên hạ mà không có tính ứng dụng thực tế. Một sự rõ ràng về chất chẳng có ý nghĩa gì nếu thiếu sự phát triển về lượng tương ứng. Cùng với các kinh tế học, kinh tế lượng thành một cặp không thể tách rời nhau.

 

Trong chủ đề 8 này ta sẽ bàn tới Thống kê kinh tế. Thống kê kinh tế có thể coi là bước 2 của của kinh tế lượng đó là thu thập số liệu. Giống như kinh tế, chẳng có ngành nào mà không cần tới thống kê; mở mắt ra là ta đã phải dùng tới thống kê rồi. Ta gọi là Thống kê kinh tế vì nó không phải là Thống kê của ngành khác như xã hội học chẳng hạn.

ví dụ: trên trang vnexpress hôm nay về thưởng tết cho giáo viên tại TP HCM có đoạn  “Tới thời điểm này, nhiều trường cho biết, mức thưởng Tết năm nay dao động từ 2-3 triệu đến đến 10-12 triệu đồng/người tùy theo cấp học và quận, huyện. Cá biệt, có trường mức thưởng lên tới hơn 20 triệu đồng”

Trong đoạn trên có các khái niệm sau:

– Thời điểm thống kê: “tới thời điểm này” được hiểu là thời điểm mà người viết viết bài. Cái này quan trọng vì “thời điểm này” của 1 ngày, 1 giờ tới số liệu đã khác rồi.

Đơn vị của tổng thể: giáo viên

– Tổng thể thống kê: toàn bộ giáo viên

– Mẫu đem ra nghiên cứu: “nhiều trường”

– Tiêu chí hay tiêu thức thống kê: Thưởng của giáo viên

Có hai loại chỉ tiêu là chỉ tiêu mang tính thời điểm như số nhân sự, số tiền có,… và chỉ tiêu mang tính thời kỳ như doanh thu năm 2013, chi phí năm 2013, …

– Loại tiêu thức: Tiêu thức số lượng

Có 3 loại tiêu thức là  là 1.Tiêu thức thuộc tính (biểu hiện bởi đặc điểm); 2. Tiêu thức số lượng (biểu hiện bằng số) và 3. Tiêu thức thay phiên (là cái này thì kô phải cái kia ví dụ giới tính nam nữ)

– Chỉ tiêu thống kê: Thưởng tết của giáo viên TP HCM dao động từ 2-3tr tới 10-12 triệu.

Trong dòng trên “Thưởng tết của giáo viên TP HCM” là phản ánh về mặt chất. Còn “dao động từ 2-3tr tới 10-12tr” phản ánh về mặt lượng. Chúng ta buộc phải xác định mặt chất trước khi xác định mặt lượng.

– Thang đo: đây là thang đo tỷ lệ vì “0” có nghĩa là không có thưởng.

– Mức độ của thống kê: là số tuyệt đối; giả sử như phát biểu là “lương giáo viên năm nay trung bình cao hơn 20% so với năm ngoái” thì mức độ là là tương đối.

Trong bài viết này cũng có câu: “năm nay thầy cô cũng vui hơn khi bình quân các giáo viên được gần 2 triệu /người“. Trong này người ta đã sử dụng tới số trung bình cộng; cộng tất cả thưởng sau đó chia toàn bộ số giáo viên thì ra số trung bình cộng

Ngoài trung bình cộng ta còn có trung bình nhân; có nghĩa là nhân tất cả vào sau đó khai căn bậc tương ứng. Ví dụ “Lương bình quân tháng 8 của công ty tăng 5%; lương bình quân tháng 9 tăng 10%” vậy tăng lương trung bình 2 tháng qua là bao nhiêu? có phải là 7,5%? Trả lời: (Căn bậc hai của (1,01 + 1,005)-1 = 7,4%.; Tương tự GDP năm 2012 tăng 6,5%; GDP năm 2013 tăng 5,5% vậy bình quân tăng GDP trong hai năm qua là bao nhiêu?

Ví dụ:

“Tại Hội nghị toàn ngành ngân hàng tại TP.HCM, NHNN cho biết, tính đến hết ngày 27/12/2013, tín dụng đã tăng trên 11% so với cùng kỳ 2012.”

Mức trên là mức tương đối; nó so giữa hai thời điểm của năm nay và năm trước với nhau. Thông thường để đầy đủ thông tin thì số tuyệt đối phải đi kèm với số tương đối; ví dụ : …tăng trên 11% so với 2012 tương ứng với 3000 nghìn tỷ.

Vì vậy con số 11% tưởng là đủ thông tin với người đọc nhưng thực ra là chưa đủ và khó có kết luận chính xác được vì 11% của 1 tỷ khác với 11% của 1000 tỷ.

Để hiểu “Tăng trường tín dụng là gì?” hay để trả lời câu hỏi “tiền đã đi về đâu?” thì phải hiểu tài chính tiền tệ, Kinh tế lượng, kinh tế học.

Comments

comments

LEAVE A REPLY