Luật Kinh tế (P3: Các loại hình Doanh nghiệp)

0
2517

Hiện nay theo luật doanh nghiệp có 5 loại hình doanh nghiệp chính:

1. Doanh nghiệp tư nhân (Đ141-145)

2. Công ty hợp danh (Đ130-140)

3. Công ty TNHH một thành viên (Đ63-76)

4. Công ty TNHH hai thành viên trở lên (Đ38-62)

5. Công ty cổ phần (Đ77-129)

Năm loại hình DN này khác nhau ở 5 đặc điểm 1.Chủ sở hữu; 2. Tư cách pháp lý;  3. Giới hạn trách nhiệm 4. Cách thức huy động vốn và 5. Chuyển quyền sở hữu.

1. Doanh nghiệp tư nhân:

– Chủ doanh nghiệp: là một cá nhân làm chủ; mỗi cá nhân chỉ được làm chủ một doanh nghiệp tư nhân

– Tư cách pháp lý: Chủ DNTN có tư cách thể nhân có nghĩa là không phân biệt giữa tư cách của DN và tư cách chủ DN. có nghĩa là người chịu trách nhiệm cuối cùng vẫn là ông chủ tư nhân cho dù ông có thuê giám đốc ngoài.

– Giới hạn trách nhiệm: Chủ doanh nghiệp tư nhân có trách nhiệm vô hạn. Trong trường hợp phá sản nếu vốn doanh nghiệp không trả được hết thì DN mang tài sản sở hữu cá nhân ra trả tiếp.

– Cách thức huy động vốn của DN: do chủ DN tự đăng ký bằng tài sản của cá nhân mình; DN tư nhân không được huy động vốn trên sàn chứng khoán; cũng có nghĩa là không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào.

– Chuyển quyền sở hữu: có quyền bán DN nhưng kể cả sau khi bán thì chủ DN vẫn phải có trách nhiệm với khoản nợ của DN trừ khi có thỏa thuận khác với người mua.

2. Công ty hợp danh:

– Chủ doanh nghiệp: Phải có ít nhất 2 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty; và có thể có thêm thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh không được thành lập công ty tư nhân hay công ty hợp danh khác.

– Tư cách pháp lý: Có tư cách thể nhân (hay tự nhiên nhân) tương tự như DN tư nhân.

– Giới hạn trách nhiệm: Thành viên chủ sở hữu có trách nhiệm vô hạn; thành viên góp vốn chịu trách nhiệm trên số vốn mình góp.

– Cách thức huy động vốn: không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào; Vốn do chủ sở hữu góp hoặc tự huy động người khác góp vốn vào để thành thành viên góp vốn.

– Chuyển quyền sở hữu: thành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng vốn. Thành viên hợp danh không được chuyển vốn cho cá nhân hay công ty khác nếu không được sự đồng ý của thành viên hợp danh còn lại.

Thông thường thì các công ty hợp danh là các công ty cần chứng chỉ hành nghề như công ty luật, khám chữa bệnh,…nhằm gia tăng khả năng liên kết lâu dài. Những thành viên hợp danh là những người cùng làm nghề đó ví dụ như người chuyên về luật không thể kết hợp với bác sỹ tai mũi họng được.

3. Công ty TNHH một thành viên

– Chủ doanh nghiệp: do một tổ chức hay một cá nhân làm chủ sở hữu

– Tư cách pháp lý: Có tư cách pháp nhân. Tư cách pháp nhân được giải thích tại điều 84 bộ luật dân sự 2005. Có nghĩa là nó tách biệt giữa tài sản của chủ sở hữu và tài sản của doanh nghiệp ra. Còn doanh nghiệp tư nhân thì không phân biệt vì chủ DN tư nhân vẫn chịu trách nhiệm tới cả tài sản của mình. Vì vậy DN tư nhân có tư cách thể nhân chứ không có tư cách pháp nhân.

– Giới hạn trách nhiệm: có trách nhiệm trong số vốn mình góp, thế nên mới gọi là trách nhiệm hữu hạn.

– Cách thức huy động vốn: Không được quyền phát hành cổ phần.

– Chuyển quyền sở hữu: Trong trường hợp chuyển một phần vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác thì phải chuyển đổi loại hình DN sang Công ty TNHH hai thành viên trở lên. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.

4. Công ty TNHH hai thành viên trở lên

– Chủ doanh nghiệp: Là tổ chức hay cá nhân; số lượng thành viên từ 2 tới 50.

– Tư cách pháp lý: tư cách pháp nhân. Người quản lý doanh nghiệp là người đại diện theo pháp luật của công ty

– Giới hạn trách nhiệm: Trong số vốn cam kết góp vào DN

– Cách thức huy động vốn: không được phát hành cổ phần mà chỉ được mời thêm thành viên tham gia vốn vào.

– Chuyển quyền sở hữu: thành viên góp vốn được góp thêm vốn, chuyển nhượng, để thừa kế, tặng. Trong trường hợp chuyển nhượng thì phải ưu tiên cho các thành viên góp vốn khác sau đó mới là người ngoài.

5. Công ty cổ phần

– Chủ doanh nghiệp: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Những người sở hữu cổ phần là cổ đông; và một công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ động cũng được chia ra làm nhiều loại như  cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi và có những quyền và nghĩa vụ khác nhau.

– Tư cách pháp lý: có tư cách pháp nhân

– Giới hạn trách nhiệm: trách nhiệm trên số vốn mình góp.

– Cách thức huy động vốn: có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn

– Chuyển quyền sở hữu: Tùy vào việc cổ phần thuộc loại gì mà có thể chuyển nhượng tự do hay là có giới hạn trong những điều kiện nhất định.

 

Ngoài 5 đặc điểm phân biệt trên thì luật doanh nghiệp 2005 cũng quy định chi tiết về cách thức tổ chức hoạt động của mỗi loại hình doanh nghiệp. Vì càng về sau thì mức độ quan hệ ngày càng phức tạp hơn đòi hỏi phải được quy định chặt chẽ hơn nếu không sẽ rất dễ xảy ra xung đột về mặt quyền lợi giữa các chủ sở hữu.

Như vậy tổng hợp lại thì các loại hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm khác nhau, người sáng lập doanh nghiệp tùy thuộc mục tiêu kinh doanh của mình là gì mà theo. Dạng công ty cổ phần là loại mới xuất hiện nhất, ưu điểm của nó thấy rõ là khả năng huy động vốn rất nhanh, như trường hợp cụ thể của tập đoàn Đại dương với số vốn ban đầu 10 tỷ mà nâng tới vài trăm tỷ chỉ trong một thời gian ngắn.

Chúng ta cũng thấy việc giới hạn trách nhiệm của chủ doanh nghiệp cũng sẽ làm cho người chủ yên tâm hơn khi bước vào con đường khởi nghiệp vì chỉ chịu trách nhiệm trên số vốn bỏ ra. Đây cũng là một bước tiến đáng kể của các loại hình DN.

Việc một ông chủ thành lập doanh nghiệp tư nhân thay vì doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn là do có thể không đủ các điều kiện cần thiết để thành lập, muốn ít phải chịu các ràng buộc về quy định hoạt động, muốn vào nhanh rút gọn, ngành nghề ít rủi ro hoặc không cần nhiều vốn, hoặc các chính sách thuế của nhà nước….

Ngoài 5 loại chính trên thì còn có dạng nhóm công ty như công ty mẹ công ty con, tập đoàn kinh tế,… được quy định tại điều 146 của luật doanh nghiệp 2005

 

Comments

comments

LEAVE A REPLY