Kinh tế phát triển (P4.Cơ cấu kinh tế)

0
1411

Các nước đang phát triển trên con đường đi qua các giai đoạn phát triển của mình đều phải đối mặt giữa các lựa chọn. Các lựa chọn này luôn mâu thuẫn với nhau, nếu đã muốn tăng trưởng kinh tế nhanh thì khó mà bền vững bởi yếu tố môi trường, xã hội. Nếu muốn bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội thì không thể có tăng trưởng kinh tế nhanh. Mọi sự lựa chọn đều mang tính đánh đổi là vậy.

Nhưng thông thường  một đồng thiệt hại gây ra cho môi trường, xã hội ở hiện tại luôn phải trả giá gấp rất nhiều lần để khôi phục ở tương lai, thậm chí không thể khôi phục được. Ví dụ như đối với những tài nguyên có thể tái tạo như rừng, nước ngọt,… phá rừng thì dễ chứ trồng lại rừng như ban đầu thì là việc bất khả thi.

Gây ô nhiễm cho một dòng sông bởi một nhà máy mang lại lợi ích cho người tiêu dùng (vì giá thấp), mang lại lợi nhuận cho DN (vì chi phí sx thấp), mang lại lợi ích cho Nhà nước (vì thuế môi trường) nhưng để làm một con sông trong lại kiểu như sông Thị Nghè ở TP HCM thì cầu gấp nhiều lần như thế.

Vì vậy, một quốc gia theo con đường phát triển bền vững luôn phải cân đối giữa ba mục tiêu 1.Tăng trưởng kinh tế 2.Giải quyết các vấn đề xã hội và 3.Bảo vệ môi trường

Trong bài về các giai đoạn phát triển của một quốc gia, ta thấy về bản chất giữa các giai đoạn đều là sự tăng giảm về lượng giữa các thành phần. Các thành phần trong nền kinh tế được phân loại nhau bởi các tiêu chí, cụ thể:

1. Phân loại theo ngành gọi là Cơ cấu ngành kinh tế

Thể hiện mối quan hệ về mặt định tính và mặt định lượng giữa các ngành trong nền kinh tế. Mặt định lượng thể hiện quy mô về mặt sản lượng, lao động, vốn của mỗi ngành kinh tế. Mặt định tính thể hiện vai trò của mỗi ngành ví dụ như là vai trò đầu tàu, hỗ trợ, thúc đẩy,…)

Cơ cấu ngành kinh tế phân ra làm ba ngành: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Cơ cấu ngành là phân loại sẽ được sử dụng phổ biến nhất về sau này. Xu hướng phổ biến sẽ là chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và cuối cùng là dịch vụ.

2. Cơ cấu vùng kinh tế:

Phân loại theo việc dân cư tập trung ở đâu. bao gồm 2 vùng: Thành thị và nông thôn.  Xu thế vận động của các nước đang phát triển là việc di chuyển dân cư cơ học từ nông thôn ra thành thị nơi họ có thể kiếm được việc làm, có cuộc sống khấm khá hơn.

3. Cơ cấu thành phần kinh tế:

Phân lọai theo sở hữu tư liệu sản xuất; bao gồm hai nhóm chính là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân. Xu thế là chuyển dịch từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân nơi tư liệu sản xuất được sử dụng một cách hiệu quả hơn.

2 nhóm này được phân ra thành các nhóm nhỏ hơn như hình dưới:

Kinh tế tập thể là các hợp tác xã, kinh tế hỗn hợp là nơi mà có nhiều nguồn vốn kết hợp ví dụ như 51% vốn nhà nước và 49% vốn tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là khối FDI.

4. Cơ cấu khu vực thế chế:

Phân theo vai trò của các bộ phận cấu thành. Khu vực tài chính là các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, bảo hiểm,…Khu vực phi tài chính là các khu vực tạo ra hàng hóa vật chất và phi vật chất vì mục đích thu được lợi nhuận. Khu vực vô vị lợi là các hoạt động phục vụ cho khu vực hộ gia đình không vì mục đích lợi nhuận như các tổ chức nghề nghiệp, các tổ chức từ thiện,…

Khu vực chính phủ là khu vực mà duy trì hoạt động từ nguồn ngân sách nhà nước như các bộ ban ngành, chính quyền các cấp, các tổ chức xã hội hoạt động bằng NSNN,…

5. Cơ cấu tái sản xuất

Thể hiện mối quan hệ giữa tích lũy, tiêu dùng và thu nhập. Công thức đơn giản thể hiện mối quan hệ giữa Thu nhập và chi tiêu là C=a + bY. trong đó Y là thu nhập, C là chi tiêu; a là tiêu dùng tự định, b là khuynh hướng tiêu dùng cận biên, (1-b) là khuynh hướng tiết kiệm cận biên.

Để có thể có tiền đầu tư thì phải có tích lũy; vì tỷ trọng giữa tích lũy so với thu nhập càng cao thì càng tạo nền tảng cho phát triển về lâu dài, tích lũy phải là nền tảng để có tiêu dùng cao trong tương lai; tỷ trọng giữa tiêu dùng và thu nhập càng lớn thể hiện tính không bền vững trong tương lai.

Ở Việt Nam năm 2007 thì tỷ lệ tích lũy là 36%; có nghĩa là trong hàm tiêu dùng trên thì b=0,64. Cứ 1 đồng thu nhập thì có 0,36đ được tích lũy và 0,64 đ dành cho tiêu dùng.Tỷ lệ này đối với hộ gia đình Việt nam có khi còn thấp hơn và khác nhau tùy vào đặc điểm từng vùng miền.

6. Cơ cấu thương mại quốc tế:

Thông thường thì một nước phát triển sẽ xuất khẩu hàng hóa thô chưa qua chế biến và nhập về từ các nước phát triển hàng hóa đã qua chế biến. Xuất khẩu hàng hóa công nghệ thấp và nhập về hàng hóa công nghệ cao…..Do giá bán thì rẻ mà giá mua thì đắt nên các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng nhập siêu.

Chính sách trong thương mại quốc tế của Việt Nam là tăng dần tỷ trọng chế biến hàng xuất khẩu là với mong muốn chuyển dịch cơ cấu thương mại quốc tế.

Comments

comments

LEAVE A REPLY