Kinh tế học (P14: Cạnh tranh hoàn hảo trong thị trường LĐ)

1
402

Nước ta xuất phát từ nền văn minh lúa nước, thủa ban đầu đất đai nhiều trong khi người thì ít. Người Lao động tự khai hoang và trồng trọt trên mảnh đất đó, họ thực sự đang tự làm cho chính họ với thu nhập phụ thuộc hoàn toàn vào năng suất LĐ của họ.

Giai đoạn phong kiến là giai đoạn mà tiền lương phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn của chủ đất. Sau đó là các cuộc xâm lược của thực dân, đế quốc với kết quả tương tự đối với người LĐ. Với khẩu hiệu “nông dân có ruộng cày” đảng đã khích lệ được người LĐ đứng lên dành độc lập cho dân tộc như ngày nay.

Ngày nay, với nền kinh tế thị trường một phần nơi chúng ta có thể dùng mô hình cung cầu để phân tích thì người LĐ bán sức LĐ của mình để lấy tiền lương đã ngày càng lên phổ biến. Kinh tế học chỉ ra rằng mọi sự trao đổi sẽ có lợi cho cả hai bên hơn là tự cung tự cấp. Mỗi người tập trung vào làm cái mình giỏi nhất sau đó bán hàng hóa đó lấy tiền mua cái mình làm kém hơn.

KTH.thang du LD

 

Nhờ có sự trao đổi này Doanh nghiệp bỏ ra số tiền OPEQ và thu về được khoản thặng dư là PAE. Người LĐ đóng vai trò là nguồn cung LĐ nhận được số tiền OPEQ nhưng tổn thất chi phí cơ hội là OBEQ vì vậy họ được khoản thặng dư là BPE.

Mô hình này làm cho cả hai bên được hưởng lợi; tổng lợi ích xã hội gia tăng thêm tam giác BAE.

Một điều kiện cần để mô hình này đúng đó là thị trường phải cạnh tranh hoàn hảo, có nghĩa là 1. Có vô số người bán cùng vô số người mua và 2. Hai bên mua và bán đều có đầy đủ thông tin như nhau.

Để đáp ứng điều kiện 1 thì phải có rất nhiều doanh nghiệp muốn thuê LĐ và cũng có rất nhiều LĐ đang kiếm việc tương ứng. Điều kiện này chỉ đáp ứng với một thành phố lớn và với lĩnh vực không chuyên biệt.

Tại Việt Nam chúng ta chỉ nhìn thấy 2 thành phố lớn đó là Hà Nội và Hồ Chí Minh có thể tương đối đáp ứng về điều kiện có nhiều DN nhưng cũng chỉ đáp ứng điều kiện không chuyên biệt ở LĐ giản đơn, dễ thay thế.

Ở điều kiện về mặt thông tin, bạn có biết là có bao nhiêu DN đang cần thuê LĐ như vị trí bạn đang có không? Các DN có thực sự biết được năng lực của bạn không (đặc tính của hàng hóa)? Câu trả lời là không, nếu may mắn bạn sẽ tìm được đúng DN trả lương tốt nhất tương ứng với năng lực của bạn; nếu may mắn DN sẽ thuê được đúng người cần thuê với mức lương phù hợp.

Vì vậy thị trường LĐ sẽ luôn có tình trạng độc quyền mua và độc quyền bán.

Độc quyền mua:

Ở vế độc quyền mua là khi chỉ có một DN thuê LĐ trong khi có rất nhiều người bán ví dụ như tại các khu công nghiệp đặt tại các vùng nông thôn Việt Nam. Hoặc chỉ có một DN muốn tuyển dụng một công việc chuyên biệt như các vị trí phiên dịch các ngôn ngữ đặc biệt, …

Khi độc quyền mua DN có lợi thế lớn về đàm phán lương. Nếu loại bỏ yếu tố tiền lương hiệu quả đi thì DN sẽ áp lương ở mức lương tối thiểu.

Độc quyền bán:

Là khi mà chuyên môn của bạn rất đặc biệt, chỉ có vài người có trong khi lại có rất nhiều DN đang mong muốn tuyển dụng. Điều này có được có thể do việc cung LĐ không theo kịp so với cầu lao động do sự phát triển của ngành đó quá nhanh. ví dụ như Intel mở nhà máy tại Việt Nam thì sẽ rất khó khăn trong việc tuyển dụng LĐ địa phương ở một số vị trí phức tạp.

Khi độc quyền bán, người LĐ có quyền đàm phán lương ở mức cao nhất có thể. Và đương nhiên nó sẽ vượt xa so với mức lương tối thiểu

Tác động cung cầu LĐ thông qua chính sách chính phủ, hiệp hội, công đoàn:

Chính phủ có thể tác động tới cung thông qua chính sách vĩ mô đó là tăng giảm số nhân lực được đào tạo trong một ngành, là cách mà bộ giáo dục đang làm thông qua giới hạn số sinh viên được tuyển của mỗi ngành.

Chính phủ có thể tác động tới cầu thông qua chính sách thương mại quốc tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, tăng giảm thuế,…Khi đó lượng cầu lao động của một ngành nghề sẽ tăng giảm tương ứng vì vậy mà quan hệ cung cầu cũng sẽ thay đổi.

Các chính sách tác động tới cung thì ảnh hưởng chậm vì phải mất ít nhất 4 năm SV mới ra trường; các chính sách tới cầu thì rất nhanh trừ các chiến lược dài hạn của chính phủ. Vì vậy muốn biết ở hiện tại hay ở tương lai nghề nghiệp ta đang làm đang và sẽ dịch chuyển như thế nào thì phải thu thập thông tin để dự đoán nhằm phản ứng kịp thời.

Ở các nước phát triển thì để tác động vào cung cầu, người LĐ có thể tập trung lại dưới dạng các nghiệp đoàn (hiệp hội). Lý tưởng, khi tập hợp lại họ biến thị trường LĐ thành độc quyền bán. Nhờ độc quyền bán họ sẽ:

– Đàm phán tăng lương với người mua thông qua việc đình công. Nếu một vài người LĐ đình công thì chủ DN sẽ thay thế người khác vì có nhiều người thất nghiệp ngoài kia, nhưng nếu toàn bộ LĐ nghỉ cùng một lúc thì không thể bổ sung ngay trong ngắn hạn nên chủ DN sẽ yếu thế hơn so với nghiệp đoàn.

– Tự giảm lượng cung LĐ của chính mình thông qua vận động hành lang với chính phủ để có các chính sách làm giảm cung LĐ.

– Họ sẽ tiến hành giới hạn lượng cung thông qua cung cấp có hạn giấy phép hành nghề như nghề luật sư, nhà báo,…Những người đang có giấy phép sẽ có động cơ cao để tụ họp lại nhằm giới hạn giấy phép được cấp ra. Việc này rất hay thấy ở các hiệp hội, để nâng cao tính pháp lý hiệp hội sẽ đề xuất chính phủ là người LĐ phải có giấy phép do họ cung cấp thì mới được hành nghề hoặc họ sẽ tuyên truyền để làm cho bên mua tin tưởng rằng chỉ những người có giấy phép mới có đủ năng lực để cung cấp hàng hóa LĐ có chất lượng.

Ở Việt Nam chúng ta có tổ chức công đoàn. Hệ thống công đoàn được quản lý bởi chính phủ thông qua tổng liên đoàn, liên đòan các quận huyện. Như vậy công đoàn đã chịu sự quản lý của nhà nước và vì vậy chịu áp lực từ chính phủ. Mặt khác lãnh đạo công đoàn thường lại là người trong ban lãnh đạo doanh nghiệp hoặc ăn lương từ chủ DN vì vậy họ bị chịu áp lức của chính chủ DN. Như vậy với hai vòng kim cô, công đoàn của ta khó có thể hoạt động theo đúng nghĩa công đoàn.

Chính phủ luôn quan tâm tới các chỉ số kinh tế vĩ mô, khi đình công xảy ra thì sẽ làm giảm sản lượng của nền kinh tế, ảnh hưởng tới đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam. Do vậy khi đình công xảy ra chính phủ thường có xu hướng đứng về phía chủ DN hơn là đứng về phía người LĐ, thậm chí cách đây vài năm đình công còn bị cấm.

Người tổ chức đình công trong các DN (tất nhiên là ngoài khối hưởng lương nhà nước) thì thường không phải tổ chức công đoàn chính thức tại DN mà do một nhóm người bức xúc họp nhau lại sau đó thì cùng thực hiện. Trong bối cảnh như vậy thì thường thì người LĐ dễ thỏa hiệp hơn do họ bị sức ép của sự thay thế cũng như không có kỹ năng bài bản trong việc thương lượng.

Luật LĐ VN khuyến khích chủ DN và người LĐ ký một Thỏa ước lao động tập thể trong đó quy định về các điều khoản mua bán sức lao động có sự thuận mua vừa bán của cả hai bên nhưng thường cũng vẫn mang tính hình thức.

Phản ứng của chủ doanh nghiệp trước nghiệp đoàn

Khi đình công xảy ra thì sản xuất đình đốn, các đơn hàng sẽ không giao kịp, hàng ngàn giờ công bị mất đi gây thiệt hại rất lớn cho chủ DN. Chủ doanh nghiệp về ngắn hạn sẽ yếu thế trong việc thương lượng với người LĐ trong nghiệp đoàn nhưng về dài hạn họ luôn tìm cách thay thế ngay khi có thể.

Trong trường hợp phía bên LĐ tổ chức đình công, chủ DN thậm chí có thể đuổi việc một số người để răn đe. Giả sử như cuộc đình công trôi qua thì họ cũng sẽ tìm cách thay thế những người cầm đầu. Việc này sẽ làm người LĐ phải tính toán rất cẩn thận trước khi tham gia vào các cuộc đình công.

Bài liên quan: Thất nghiệp

Ảnh hưởng của công đoàn

Giả sử như công đoàn họat động thực sự hiệu quả thì thường lương của DN có công đoàn lớn hơn từ 10 tới 20% so với DN không có công đoàn. Khi DN phải trả lương cao hơn mức lương cân bằng thì những người ở lại được lợi vì nhận được mức lương cao hơn nhưng có một bộ phân phải ra đi.

Bộ phận này gia nhập vào thị trường không có công đoàn khiến cho cung lao động của thị trường này dịch phải. Kết quả là làm cho lương của thị trường không có công đoàn lại giảm sút hơn so với mức cân bằng ban đầu.

kinh te hoc p14-anh huong cua cong doan

Comments

comments

1 COMMENT

LEAVE A REPLY