Kinh tế học (P13: Lương tối thiểu)

1
592

Trong bài về Thất nghiệp ta có đề cập tới một nguyên nhân làm tăng số người thất nghiệp là điều chỉnh tăng lương tối thiểu. Entry này bàn sâu hơn về vấn đề này.

Mục đích của lương tối thiểu là để đảm bảo rằng với số tiền tối thiểu đó người lao động có mức sống tối thiểu. Đối tượng hướng tới của chính sách lương tối thiểu là những người có thu nhập thấp, lao động giản đơn dễ thay thế.

Trong một thị thị trường lao động, để cho dễ phân tích người ta dùng mô hình cung cầu. Mô hình cung cầu chúng ta xét tới ở đây là thị trường lao động giản đơn dễ thay thế, chính là đối tượng mà chính phủ muốn tăng lương cho họ thông qua chính sách lương tối thiểu.

Trong mô hình cung cầu lao động ở phía dưới, Thị trường đang cân bằng tại điểm E với mức lương là P và lượng lao động được thuê là Q.

thang du LD

Tại mức cân bằng này, người lao động được hưởng tổng số tiền lương là P x Q; chính là tiền lương nhân với tổng số lao động được thuê. APE là thặng dư của người thuê lao động (nhà sx). BPE là thặng dư của người lao động.

Giải thích về ý nghĩa của thặng dư

Thặng dư của người lao động nằm trên đường cung lao động phía dưới đường cầu lao động ở mức giá mà người thuê lao động sẵn sàng trả.

Điểm Po chính là điểm hòa vốn của người lao động; điểm này là điểm mà không người lao động nào chấp nhận. Nhích lên tới P1, đã có một số người chấp nhận với mức lương này, càng lên cao số người chấp nhận càng tăng và thặng dư họ đạt được càng cao. Tại mức giá Pe là giá cân bằng -> người ta gọi tam giác PoPeE là thặng dư của người lao động (lợi nhuận của người lao động)

thang du

Thặng dư của người thuê lao động (cầu lao động, nhà sản xuất) nằm dưới đường cầu và phía trên đường cung trên mức giá cân bằng.

Tại mức lương Pm, là điểm hoà vốn của người thuê LĐ, họ sẽ không thuê bất cứ ai tại mức giá này. Khi mức giá càng giảm thì người thuê lao động càng được thặng dư hơn (lợi nhuận hơn). Tại điểm E với mức giá cân bằng Pe, người thuê LĐ đã được tổng thặng dư là tam giác PmEPe (lợi nhuận của người thuê LĐ, chú ý là thặng dư này khác với thặng dư nsx trong entry Kinh tế học (P6: Kiểm soát giá vì lợi nhuận này chỉ liên quan tới người LĐ).

Đọc thêm bài Kinh tế học (P3: Cung cầu) để hiểu về khái niệm của đường cầu.

Nếu lương tối thiểu được áp đúng bằng P thì sẽ không có ý nghĩa gì vì nó vẫn đang ở đó rồi. Vì vậy sẽ có hai trường hợp là lương tối thiểu thấp hơn lương cân bằng ở hình 1 và trường hợp lương tối thiểu lớn hơn lương cân bằng ở hình 2.

luong toi thieu 2Khi lương tối thiểu thấp hơn lương cân bằng, giả sử người thuê lao động dùng mức lương đó làm lương sẽ trả thì cung lao động sẽ giảm xuống Q1 vì người lao động không muốn làm việc nữa, họ thà nhận hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc ờ nhà chăm con còn hơn.

Trong thực tế thì không như vậy, giả sử lương tối thiểu có đặt thấp hơn mức lương cân bằng thì người thuê LĐ cũng sẽ vẫn trả ở mức lương cân bằng P (có nghĩa là cao hơn lương tối thiểu) nguyên nhân là 1. Sẽ ổn định được lao động vì người lao động không nghỉ việc hoặc chuyển sang đối thủ cạnh tranh; 2. Lý thuyết tiền lương hiệu quả cho rằng nếu họ trả lương cao hơn thì năng suất LĐ cũng cao hơn do người LĐ cảm thấy hạnh phúc hơn.

Vì nếu để thấp hơn thì chẳng có tác dụng gì nên chính phủ sẽ thiết lập lương tối thiểu cao hơn lương cân bằng. Do người thuê LĐ phải trả lương cao hơn mức cân bằng nên họ sẽ giảm số LĐ cần thuê xuống mức Q1; có nghĩa là có (Q-Q1) công việc bị mất đi. 

luong toi thieu 3

Thặng dư người thuê LĐ bị mất đi tam giác GFE và chỉ còn hình thang PAFG. Trong thực tế người thuê LĐ vì bị giảm số LĐ nên họ phải tăng năng suất, hoặc tăng thời gian làm thêm để sản lượng không bị giảm nhiều vì vậy không hẳn là họ bị thiệt đi tam tác GFE.

Thặng dư người LĐ cũng bị mất đi tam giác HGE và chỉ còn BPGH. Tổng lượng mất đi là tam giác HFE, tổn thất này do người bị mất việc phải hứng chịu. Người vẫn còn việc làm thì sẽ được lợi vì giờ họ được trả lương ở P2 thay vì P như cũ, chính là diện tích hình vuông PP2FG.

Số người bị mất việc lại chính là người có công việc giản đơn và dễ bị thay thế nhất. Chủ doanh nghiệp do có khoảng cung LĐ dư thừa là (Q2-Q1) nên họ có nhiều lựa chọn sàng lọc LĐ hơn; họ cũng có thể đàm phán với người có việc làm để lách luật do người đang có việc làm bị sức ép thay thế.

Chúng ta chú ý là độ dốc hai đường cung cầu trên chỉ mang tính chất minh họa, tùy thuộc vào độ đàn hồi mà mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau và cái lợi có thể còn lớn hơn cái hại. Ví dụ nếu như độ đàn hồi của cầu thấp, có nghĩa là cầu rất dốc thì khi lương tăng lên, số LĐ mất việc sẽ rất ít. Nhưng thường trong dài hạn độ đàn hồi của cầu là thoải vì chủ DN sẽ luôn tìm cách thay thế LĐ, hoặc cải tiến công nghệ để giảm số LĐ cần thuê; đó là những việc mà trong ngắn hạn họ đã không làm được.

Lương tối thiểu không những ảnh hưởng tới bản thân đối tượng thiệt thòi đó mà còn ảnh hưởng tới nhiều vấn đề khác. Các DN nước ngoài đầu tư vào VN có thể e dè với lương tối thiểu ở nước sở tại do cho rằng nó cao hơn nước khác vì vậy có thể làm giảm đầu tư từ nước ngoài. Nó cũng ảnh hưởng tới các ông chủ mới khởi nghiệp hay các mô hình KD có lợi nhuận biên thấp.

Không những thế khi lương tăng thì doanh nghiệp có thể tăng giá bán. Tăng giá hàng hóa làm tăng lạm phát, người mua hàng bị ảnh hưởng nhiều nhất lại chính là người có thu nhập thấp. Và vì vậy người có thu nhập thấp bị thiệt hại kép.

Tuy nhiên tại VN lương tối thiểu vẫn được áp dụng và tăng thường xuyên nguyên nhân là nó ảnh hưởng trực tiếp tới lương của cán bộ công chức đang làm việc trong các đơn vị hành chính sự nghiệp. Người LĐ là công chức, lực lượng vũ trang không tuân theo đúng quy luật cung cầu vì mức lương tăng thêm được trả bởi ngân sách nhà nước, sẽ không có ai bị mất việc cả. Vì vậy khi lương tối thiểu năm 2012 tăng lên 1.05 tr từ mức 0,83 tr thì ngân sách nhà nước đã phải dự trù 11.000 tỷ đồng để trả cho 2,8 triệu công chức.

Các LĐ làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước cũng sẽ được lợi vì doanh nghiệp nhà nước không đặt lợi nhuận lên hàng đầu, có thể bị lỗ kinh niên, nhà nước sẽ bù lỗ.

Các LĐ không ăn lương nhà nước sẽ bị thiệt do giá cả hàng hóa tăng mặc dù chủ DN cũng sẽ định vị tiền lương trả ở mức cao hơn so với mức lương ở một vị trí tương tự trong cơ quan nhà nước để có thể giữ và thu hút LĐ. Nhưng về cơ bản thì họ vẫn bị thiệt hơn là được lợi.

 

Nghị định 182/2013/NĐ-CP về lương tối thiểu cho LĐ làm ở doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/1/2014:

– Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng I áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.700.000  đồng/tháng

– Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng II áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.400.000 đồng/tháng

– Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng III áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.100.000 đồng/tháng

– Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng IV áp dụng mức lương tối thiểu vùng 1.900.000 đồng/tháng

Nếu đi sâu hơn nữa ta thấy đối tượng bị ảnh hưởng thường lại chính là những người trong độ tuổi vừa mới bước chân ra khỏi bậc trung học gia nhập vào lực lượng LĐ, có nghĩa là họ từ 19 tới 24 tuổi. Trong độ tuổi này họ thường không phải nuôi ai cả hoặc thậm chí là vẫn được bố mẹ chu cấp.

Khi họ vượt qua tuổi 24, thông thường với kinh nghiệm tích lũy được họ sẽ nhận được mức lương cao hơn lương tối thiểu, tuy nhiên lúc này họ có thể đã mất nguồn thu trợ cấp từ bố mẹ và thêm người phải nuôi là con cái. Họ sẽ gia nhập vào nhóm ngèo nếu không có sự hỗ trợ nào khác từ chính phủ.

Để giảm ảnh hưởng tiêu cực tới những người này, chính phủ tác động sẽ giảm thuế thu nhập thông qua việc giảm trừ gia cảnh của người đóng thuế. Vì vậy, tại Việt Nam thực tế người LĐ ngoài khối hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang sẽ quan tâm tới mức lương tối thiểu phải chịu thuế cùng mức giảm trừ gia cảnh

Trên quan điểm của kinh tế vĩ mô thì có lập luận ủng hộ cho chính sách lương tối thiểu đó là đặc tính tiêu dùng. Phần lương tăng thêm đánh một phần vào chính thu nhập của chủ doanh nghiệp nhưng chủ DN thường lại đã rất giàu việc tăng hay giảm X đồng thu nhập không làm ảnh hưởng gì tới việc chi tiêu của họ. Trong khi đó người phụ thuộc vào lương tối thiểu có hàm chi tiêu rất nhạy cảm với thu nhập, thường họ tiêu hết số tiền nhận thêm được và vì vậy nếu chuyển thu nhập về người LĐ thì tổng chi tiêu của nền kinh tế sẽ tăng lên.

Tham khảo

Nước Đức theo mô hình thị trường tự do định hướng xã hội. Là nền kinh tế đứng thứ tư thế giới và đặc biệt không bị khủng hoảng nợ như các nước châu âu giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên do đồng ý việc người lao động và chủ tự thỏa thuận lương (không quy định mức lương tối thiểu) mà một số ngành đơn giản chỉ 3 usd/giờ, trong khi lương tối thiểu ở pháp là 9 usd/giờ.

Điều này sẽ giúp cho Đức tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn so với Pháp nhưng vì mức lương thấp nên có tới 15% người dưới mức ngèo đói (tất nhiên theo chuẩn châu âu).

Vì vậy việc không quy định lương tối thiểu hay quy định lương tối thiểu đều có mặt được và không được đòi hỏi các chính phủ phải vận dụng một cách hài hòa nhằm mục đích cái lợi có được lớn hơn cái hại sinh ra. Hay nói theo ngôn ngữ kinh tế học thì điểm tối ưu là điểm mà Lợi ích cân biên bằng với chi phí cận biên.

 

Từ 1/1/2015 Lương tối thiểu mới như sau:

Vùng 1: 3.100.000 đồng/tháng (tăng 400.000 đồng);

Vùng 2: 2.750.000 đồng/tháng (tăng 350.000 đồng);

Vùng 3: 2.400.000 đồng/tháng (tăng 300.000 đồng);

Vùng 4: 2.150.000 đồng/tháng (tăng 250.000 đồng).

Người lao động đã qua học nghề, bao gồm: người đã được doanh nghiệp đào tạo hoặc tự học nghề và được kiểm tra, bố trí làm công việc yêu cầu phải qua đào tạo nghề; người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ nghề của cơ sở nước ngoài; người có chứng chỉ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng nghề hoặc hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề và người đã được cấp bằng nghề, trung cấp nghề… theo quy định tại Luật Giáo dục 1998, Luật Giáo dục 2005 và các quy định liên quan.Mức lương của những đối tượng nêu trên phải cao hơn ít nhất 7% so với lương tối thiểu vùng.

Comments

comments

1 COMMENT

  1. anh ơi cho e hỏi “Quy định tăng lương tối thiểu sẽ khiến đường cung dài hạn của ngành cạnh tranh hoàn hảo thay đổi như thế nào”. Anh giúp e với ạ.

LEAVE A REPLY