Kinh tế học: Mặt đối lập của Adam Smith

0
191

Đọc entry Truyện ngụ ngôn của bầy ong bạn sẽ thấy Adam Smith quả là có cái nhìn vượt xa so với thời đại của ông. Tuy nhiên thuyết Tự do tự nhiên của ông không phải là không có kẽ hở. Con người vốn có nhiều sáng tạo nên họ có nhiều cách để đạt được lòng tham của họ, các quy định về luật pháp khó có thể theo kịp được. Để tìm hiểu nhược điểm của thuyết này không gì hơn là bàn tới một người phản đối có tầm nhất, đó là Các Mác (1818-1883)

Chỉ cần nhìn 10 điểm hành động trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848 do Mác và Ăng ghen soạn thảo là có thể thấy rất rõ quan điểm của Các Mác:

  1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp địa tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.
  2. Áp dụng thuế lũy tiến cao.
  3. Xóa bỏ quyền thừa kế
  4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn.
  5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với nguồn vốn của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
  6. Tập trung tất cả các phương tiện giao thông vận tải vào trong tay nhà nước.
  7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cày cấy và cải tạo ruộng đất trong một kế hoạch chung.
  8. Thực hành nghĩa vụ lao động với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là cho nông nghiệp.
  9. Kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, thi hành những biện pháp làm mất dần sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, bằng cách phân phôi dân số cân bằng hơn trên toàn quốc.
  10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. xóa bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất.

Nhìn lướt qua chúng ta sẽ thấy các quan điểm của hai ông đánh nhau chan chát:

  1. Adam Smith ủng hộ quyền sở hữu cá nhân. Các Mác thì phản đối, tài sản phải là sở hữu tập thể, cụ thể là nhà nước là đại diện tập thể.
  2. Adam Smith muốn cung cầu, giá cả để thị trường tự quyết định. Các Mác muốn kế hoạch hóa tập trung. Cung dẫn dắt cầu (thực tế là cung cầu có mối quan hệ qua lại với nhau).
  3. Adam Smith ủng hộ việc mỗi cá nhân trong nền kinh được quyền mưu cầu lợi ích cá nhân để từ đó mang lại lợi ích cho xã hôi. Các Mác đặt tập thể lên trên, mọi hành động của cá nhân trước hết là phải vì tập thể. Nếu để cá nhân tự do mưu cầu lợi ích cá nhân thì tất yếu dẫn tới khủng hoảng.
  4. Các Mác cho rằng sự tham lam của mỗi cá nhân sẽ tạo ra chủ nghĩa vật chất chỉ biết tới tiền. Giữa tôi và anh chỉ có quan hệ vật chất, có tiền thì tôi làm, không tiền thì tôi không làm.
  5. Các mác cho rằng Tư bản bóc lột giá trị thặng dư bằng sở hữu tư liệu sản xuất vì vậy ông muốn quốc hữu hóa chúng.
  6. Các Mác cho rằng tư bản dùng tiền để lũng đoạn vì vậy phải tập trung tín dụng vào tay nhà nước.

Nếu bạn là người vô sản, chẳng có đồng nào trong túi thì đương nhiên bạn sẽ rất thích các quan điểm của Mác. Cho dù thế nào bạn cũng không bị mất đi mà chỉ có thêm lên. Vì vậy với số đông tầng lớp lao động thời đó thì tuyên ngôn của ông được coi như kinh thánh.

marxNgười ta cho rằng Các Mác xuất hiện làm thay đổi hoàn toàn tiến trình lịch sử. Chuyến xe sang trang mới nhờ Adam Smith giờ tiếp tục thay đổi vì Các Mác. Các Mác thực sự là vĩ nhân, ông là người phát kiến ra các khái niệm như Phân chia giai cấp, Bóc lột giá trị thặng dự, Giá cả sức lao động, Phương thức sản xuất, Quan hệ sản xuất, Chủ nghĩa xã hội khoa học…. và cả cái tên “Kinh tế học cổ điển” cũng là do Mác đặt ra. Chúng ta tìm hiểu một số di sản của ông:

 

1.Mác dự đoán cái chết tức tưởi của chủ nghĩa tư bản:

Mác cho rằng Chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ dẫn tới diệt vong và thay thế bằng Chủ nghĩa Cộng Sản như một quy luật tiến hóa xã hội. Thậm chí Mác đã ví mình như Darwin, tác giả của Thuyết tiến hóa tự nhiên. Lập luận của Các Mác không phải là không có lý, bạn có thể đọc về Chu kỳ tích lũy tư bản để hiểu sâu về lập luận này trên thực tế. Về logic đơn giản ta hiểu thế này:

Quan hệ đầu tiên trong trao đổi hàng hóa là H-H : anh có vỏ sò tôi có đuôi công, tôi với anh thấy hợp lý thì đổi cho nhau.

Tiếp theo xuất hiện phương tiện trao đổi là tiền thì mô hình là H-T-H’.

Tiếp tới là mô hình T-H-T’ : Nhà tư bản bỏ ra T đồng để tạo ra H sau đó bán H đi để thu về T’. T’ – T gọi là giá trị thặng dư. Ví dụ nhà tư bản bỏ tiền ra thuê nhân công sản xuất ra hàng hóa và bán đi, giá thuê nhân công và giá bán ra lệch nhau một khoản gọi là thặng dư, nhà tư bản chiếm lấy khoản này. Người lao động không tự tạo ra được hàng hóa vì nhà tư bản sở hữu tư liệu sản xuất (đất đai, nhà xưởng, máy móc).

Ban đầu Các Mác đặt ra câu hỏi là trong quan hệ T-H-T’ thực tế là vẫn hàng hóa đó tại sao lại có giá khác nhau. Ví dụ một cửa hàng mua cái máy tính giá 5 đồng và bán cái máy tính đó cho người khác giá 6 đồng. Vậy 1 đồng chênh này được tạo ra từ đâu? rõ là nó được tạo ra trong quá trình lưu thông hàng hóa. Cuối cùng Mác tự trả lời là do có sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động.

Cuối cùng của sự tiến hóa là mô hình T-T’ . Để ý rằng 3 mô hình phía trên hàng hóa đóng vai trò trung tâm nhưng tới mô hình này không còn xuất hiện của hàng hóa nữa. Nhà tư bản kiếm tiền từ tiền mà không tạo ra bất kỳ đơn vị hàng hóa nào. Khi cả một hệ thống kinh tế theo mô hình này thì tất yếu dẫn tới khủng hoảng, là cái chết tức tưởi của chủ nghĩa tư bản.

karl-max

2. Học thuyết giá trị lao động

Một nhà tư bản ví dụ sản xuất ra cái áo với chi phí tổng cộng là 100 đồng. 100 đồng này bao gồm 50 đồng trả cho người lao động, 30 đồng cho nguyên vật liệu và 20 đồng cho khấu hao tài sản cố định. Tổng chi phí đó gọi là Giá trị hàng hóa.

Cái áo này được bán cho người sử dụng. Người sử dụng mặc cái áo đó và cảm thấy lịch lãm, ấm áp, nó cũng giúp che đậy đi những phần cơ thể không cần thiết phải che đậy. Người sử dụng cảm nhận một giá trị từ hàng hóa gọi là Giá trị sử dụng.

Chúng ta thấy là hai thuộc tính giá này tồn tại cùng trong hàng hóa. Một cái có trước khi hàng hóa được sử dụng và một cái có sau khi hàng hóa được sử dụng và có khi chẳng liên quan qué gì tới nhau.

Mác cho rằng giá trị của hàng hóa được định bởi lao động cụ thể là bằng số giờ lao động trung bình để tạo ra hàng hóa đó. Người công nhân bán sức lao động của anh ta cho nhà tư bản để thu về khoản tiền lương. Nhà tư bản bán ra ngoài cao hơn tiền lương thu về giá trị thặng dư, nhà tư bản bóc lột khoản này. Người lao động không có con đường nào khác là bị bóc lột vì họ không sở hữu tư liệu sản xuất.

Mác coi nhẹ vốn mà nhà tư bản phải bỏ ra, vai trò của máy móc thiết bị. Mác cho rằng sự phát triển của máy móc chỉ càng làm trầm trọng thêm việc bóc lột chứ không phải giải phóng họ. Thay vì phải thuê công nhân cường tráng thì tư bản thuê trẻ em, phụ nữ để chỉ phải trả mức lương thấp hơn. Kết quả là lương ngày càng thấp, thất nghiệp ngày càng tăng, tiêu dùng thấp theo,….-> kết cục là khủng hoảng.

Thực tế 200 năm trôi qua, chủ nghĩa tư bản vẫn không chết mặc dù đúng là các cuộc khủng hoảng diễn ra theo chu kỳ lặp đi lặp lại. Nó không chết không hẳn vì nó hoàn hảo mà vì chưa ai tìm ra được mô hình thay thế tốt hơn.

 

Tôi phát hiện ra ba điều. Tôi phát hiện ra rằng đói nghèo là một thứ phá hoại, là cái gì đó phải bị đấu tranh và bị tiêu diệt. Thứ hai tôi phát hiện ra rằng ngèo đói không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả của cấu trúc (chủ nghĩa tư bản bóc lột). Thứ ba tôi cho rằng nghèo đó là thứ gì đó cần phải chống lại (bằng cách xóa bỏ giai cấp)

Gustavo Gutiérrez (người ủng hộ chủ nghĩa Mác)

Comments

comments

LEAVE A REPLY