Kinh tế học: Cuộc cách mạng cận biên

0
1699

Các Mác chỉ ra sai lầm của chủ nghĩa tư bản là coi quan hệ giữa người với người giống như quan hệ hàng hóa, tiền trao cháo múc. Tuy nhiên Lịch sử thế giới đã không may mắn vì Các Mác đã không biết tới câu của cha ông ta “Phú quý sinh lễ nghĩa”. Khi con người tích lũy tới một mức nào đó thì tính Người trong họ cũng được nâng lên. Nghèo thì hèn, nghèo đói có thể biến đổi một người có tính Người nhất thành tính toán và so đo. Giàu có có thể biến đổi một người keo kiệt nhất thành hào phóng.

Các Mác cũng sai lầm trong việc chỉ tính giá trị hàng hóa chủ yếu từ sức lao động. Coi sự phát triển của máy móc chỉ làm trầm trọng thêm sự bóc lột. Thực tế rằng khi năng suất lao động tăng lên nhờ máy móc thì không phải nhà tư bản chiếm hết mà họ cũng phân chia cho người lao động. Người lao động ngày này thu nhập cao hơn và làm ít hơn.

Mác không tính toán được rằng sự khác nhau trong chi phí cơ hội của tiền. Người lao động được nhận tiền định kỳ hàng tuần, hàng tháng ngay cả khi hàng hóa đó chưa được bán hoặc có bán được không. Nhà tư bản phải trả tiền lương trước sau đó bán hàng hóa đó đi mới thu được tiền, anh ta bị rủi ro không bán được hàng.

Về vấn đề phân chia giai cấp. Giờ đây giữa giai cấp tư sản và vô sản không rạch ròi như xưa. Bằng thị trường chứng khoán, bất cứ ai cũng có thể trở thành người chủ bằng cách sở hữu cổ phiếu của một công ty nào đó. Tình huống người lao động của doanh nghiệp A sở hữu cổ phiếu của doanh nghiệp A ngày càng phổ biến. Đình công, bãi công, phá hoại máy móc,….ảnh hưởng trực tiếp tới giá cổ phiếu mà họ sở hữu, không còn chỉ là tiền lương.

Thực tế thì ngày nay ai cũng biết là nhu cầu của con người rất đa dạng thay đổi theo thời gian. Nhà tư bản không chỉ hướng tới chi phí thấp nhất mà còn hướng tới việc sản xuất cái gì mà xã hội cần. Bằng cạnh tranh, những DN không hướng tới nhu cầu, không sản xuất sản phẩm ngày càng hữu ích hơn thì sẽ bị đào thải.

Bạn thấy nguyên lý bóng đèn điện thật đơn giản, chẳng phức tạp gì, chỉ là sợi kim loại bị nóng lên và phát sáng. Nhưng khi nó được tạo ra bởi Edison thì thật khủng khiếp, một đèn dầu úp ngược, thay đổi hoàn toàn cách mà người ta chiếu sáng. Một cái gì đó chỉ có thể trở thành đơn giản khi ai đó chỉ cho ta còn trước đó nó vẫn phức tạp.

Câu hỏi trở lên đơn giản khi bạn biết câu trả lời, khi nhìn kết quả của một vấn đề đã được giải quyết bạn thấy cách làm thật là dễ. Nhưng hãy nhớ rằng trước thời điểm đó nó rất phức tạp, giống như một căn phòng tối om trước đó giờ đã được sáng lên để có thể nhìn mọi thứ trong phòng. Cùng một căn phòng tối om, con mèo và bạn nhìn thấy những thứ khác nhau. Trong kinh tế học, thời điểm mà khái niệm Cận biên ra đời thực sự là cuộc cách mạng, ngày nay sinh viên ngành kinh tế dốt nhất cũng hiểu thế nào là cận biên.

Trong loạt entry về Kinh tế học, ta thấy có một cụm từ xuyên suốt trong các phân tích đó là Cận Biên. Trong phân tích về doanh nghiệp ta có chi phí cận biên, doanh thu cận biên, lợi nhuận cận biên. Trong phân tích nhu cầu người tiêu dùng ta có tiêu dùng cận biên, lợi ích cận biên, tiết kiệm cận biên. Trong phân tích hàng hóa môi trường có chi phí biên ngoại ứng, chi phí cận biên xã hội. Trong phân tích cung cầu lao động có doanh thu cận biên lao động, chi phí tài nguyên cận biên của lao động. Tóm lại mọi đối tượng trên thị trường đều quyết định tại điểm biên.

Bạn dừng uống tại cốc bia mà lợi ich đạt được từ cốc bia đó bằng hoặc thấp hơn giá cốc bia.

Doanh nghiệp dừng sản xuất tại đơn vị hàng hóa mà tại đó chi phí để sản xuất ra hàng hóa đó thấp hơn hoặc bằng giá bán.

Doanh thu cận biên là doanh thu có thêm được khi bán thêm một đơn vị hàng hóa.

Lợi nhuận cận biên là lợi nhuận có thêm được khi bán thêm một đơn vị hàng hóa

Chi phí cận biên là chi phí phải bỏ ra để có thêm một đơn vị hàng hóa

Thể hiện rõ nhất và dễ hiểu nhất về khái niệm cận biên là phân tích về chi phí cơ hội.

cach-mang-can-bien

Chúng ta hiểu rằng Mác đã đi theo một ngã rẽ khác tạo thành một nhánh riêng, sau này vẫn có những người phát triển tiếp học thuyết của Mác, ví dụ như Lê Nin. Nhưng, cùng trong tiến trình đó các nhà kinh tế học theo nền tảng của Kinh tế học cổ điển vẫn tiếp tục đi tìm các lời giải cho các vấn đề mà kinh tế học cổ điển chưa giải đáp; họ tạo ra một trường phái mới gọi là Kinh tế học tân cổ điển. Một trong những câu hỏi kinh điển đó là Tại sao nước mang lại giá trị sử dụng cao hơn kim cương nhưng kim cương lại đắt hơn rất nhiều so với nước?

Tới thời điểm đó người ta mới lý giải được là do sự phổ biến của nước và sự khan hiếm của kim cương. Để có thêm một đơn vị lợi ích từ nước rẻ hơn rất nhiều so với việc để có thêm một đơn vị lợi ích từ kim cương. Như vậy có mối liên hệ giữa giá trị sử dụng và giá bán hàng hóa (giá trị trao đổi) có mối liên hệ với nhau.

Giá cả hàng hóa và chi phí sản xuất được xác định bởi nhu cầu chủ quan của người mua và tính thay thế tốt nhất (chi phí cơ hội). Điểm mà tại đó giá bán đơn vị hàng hóa bằng với chi phí để sản xuất ra nó sẽ quyết định DN sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và giá bán thế nào. Điểm mà tại đó lợi ích có thêm khi tiêu dùng bằng với giá sẽ quyết định người tiêu dùng tiêu dùng cái gì, bao nhiêu và ở mức giá mua nào.

Lấy ví dụ bạn có 2 giờ nghỉ trưa. Bạn có hai sự lựa chọn để đầu tư cho 2 giờ đó là đọc sách và ngủ (sản xuất hai loại hàng hóa A và B). Bạn sẽ quyết định dừng đọc sách tại điểm mà bạn thấy rằng lợi ích có thêm khi đọc thêm 1 đơn vị sách (trang,chương, quyển) không xứng với chi phí cho thời gian bỏ ra. Chi phí cho thời gian bỏ ra đó được bạn ước lượng thông qua lợi ích từ việc ngủ (giả sử chỉ có hai sự lựa chọn đọc sách và ngủ).

Và hãy nhớ rằng chi phí cơ hội có quy luật tăng dần còn lợi ích có quy luật giảm dần. Nếu như hiệu giữa lợi ích và chi phí không đổi thì bạn sẽ không bao giờ dừng việc đọc sách. Thực tế là bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi dần khi đọc sách chứ không hứng khởi như những trang đầu, nó làm cho bạn tính toán chi phí cơ hội ngày càng tăng, tăng nhanh hơn so với lợi ích bạn cảm nhận được.

Bạn đã bao giờ nghe nói tới việc Tiền lương được quyết định bởi năng suất cận biên của lao động chưa?
ns-can-bien-1Lương bạn sẽ dừng tại điểm mà tại đó người chủ thấy rằng lương tăng thêm bằng hoặc thấp hơn so với năng suất tăng thêm của bạn. Lấy ví dụ trong một nhà máy may, người chủ thấy rằng khi tăng lương thì năng suất lao động cũng tăng theo, ban đầu lợi ích từ những cái áo được sản xuất thêm nhờ tăng năng suất cao hơn so với số lương phải trả thêm nhưng dần dần lợi ích tăng thêm giảm dần tới ngưỡng mà tại đó lương tăng thêm bằng với lợi ích có thêm.

Trong trạng thái có lý trí các quyết định của chúng ta đều tại điểm biên, trừ khi bạn có kế hoạch ra quyết định từ trước cho một thời điểm t báo trước. Từ bây giờ, khi bạn quyết định làm một cái gì đó hãy quan sát trạng thái lúc đó, tại sao bạn lại quyết định việc đó? Đó chắc chắn phải là cân đối giữa lợi ích và chi phí? Cụ thể là lợi ích có thêm và chi phí chi thêm.

 

 

Vậy một anh thanh niên giết một người chỉ vì một cái nhìn đểu thì có phải anh ta đang quyết định tại biên không? Chi phí từ việc ờ tù cả đời có xứng với sự cảm thấy lòng tự tôn có thêm? Không phải, lúc đó anh ta đang bị cảm xúc chi phối khiến cho việc đo đểm không đủ và không đúng. Cụ thể là không ý thức được hết chi phí thêm và lợi ích có thêm.

Comments

comments

LEAVE A REPLY