Theo đề nghị của một bạn đọc viết về chủ đề ngân hàng nhà nước cho phép dùng nhân dân tệ trao đổi tại 7 tỉnh biên giới Việt Trung theo thông tư 19/2018/TT-NHNN và hôm qua có vụ một bác bán 100 usd bị phạt 90tr; mình sẽ viết một bài về chủ đề này.

Bài viết này mang tính phân tích, không có chủ đích ủng hộ phe nào cả. Nếu bạn đọc nào thấy không đúng có thể comment chúng ta cùng trao đổi. Các comment không trên tinh thần xây dựng hướng về chân lý thì mình sẽ không trả lời.

Trước hết cần phải xem thiên hạ phản ứng thế nào với thông tư này.

BBC tiếng việt có cái title rất giật gân “Thông tư 19 cho dùng Nhân dân tệ: Mối nguy bắt đầu?”. Trước hết là title với dấu “?” thường không phải dân pro; tất cả những bài viết kiểu vậy tốt nhất không nên đọc vì bản thân người viết còn không chắc. Tóm tắt bài viết này như sau:

Nguy cơ: VN hoàn toàn lệ thuộc vào TQ về kinh tế và chính trị

Hại:

  • Mặc dù giới hạn ở 7 tỉnh nhưng nguyên tắc bình thông nhau, cả nước mặc nhiên sẽ dùng NDT thành loại tiền chính thức.
  • Có sự hiểu nhầm khác biệt giữa chấp nhận NDT trong giỏ tiền tệ của IMF và dùng NDT như một loại tiền tệ quốc gia (sau đó bù lu bù loa về các khái niệm rối rắm). Mặc dù TT19 không công nhận NDT là đồng tiền chính thức nhưng việc NHNN cho phép lưu hành trên lãnh thổ VN tức là công nhận NDT là đồng tiền chính thức thứ hai. (ý này bạn thấy họ dẫn dắt từ cơ sở ý trên mà ko phải từ chính phân tích của đoạn này)
  • TT 19 cho phép 95 triệu dân ở Vân Nam và Quảng Tây cùng vài triệu dân VN, hay gần 100 triệu được dùng NDT cho chi thương mại và đầu cơ tiền trên lãnh thổ VN -> NHNN sẽ không kiểm soát được chính sách tài chính (nới rộng hay thắt chặt). Tỷ giá VNĐ sẽ bị ảnh hưởng nặng bởi tỷ giá NDT, đây là ảnh hưởng nặng lề vì trong cuộc chiến Mỹ – Trung hiện nay tiền NDT đã mất giá 9% trong khi VNĐ chỉ mới mất 4-5% (có thể dẫn VNĐ tiếp tục mất giá đi 4-5% do việc NDT lan tràn ở HN và HCM)…..
  • Nếu NDT bị phá giá thì hàng hóa của họ sẽ rẻ đi, tạo ưu thế lớn với hàng hóa VN. Nhiều kỹ nghệ của VN sẽ bị bóp nghẹt

4 ý chính này tương ứng với 4 ý trong bài viết; kết bài còn dài dặng dặc liên đới cả sang vấn đề đặc khu,…

Nếu bạn có kiến thức cơ bản về tài chính tiền tệ thì sẽ thấy các lập luận bảo vệ cho các ý không chắc chắn, thậm chí chẳng liên quan gì, có hơi buồn cười nữa. Nhưng với một người không có nền tảng kiến thức về về tài chính tiền tệ thì chỉ đọng lại một ý là CP VN đang tiếp tay cho TQ.

Trước khi có thông tư 19 thì điều gì đang diễn ra?

1. Về sử dụng đồng tiền trong giao dịch nước ngoài (theo pháp lệnh ngoại hối 2005)

Đồng tiền giao dịch giữa hai doanh nghiệp A và B ở hai nước là phụ thuộc vào thỏa thuận của 2 DN, NHNN không ép buộc (điều 6,7,10). Hai DN có thể thống nhất dùng VNĐ, NDT, USD, EUR, …..mà không ai cấm.

Giả sử hai bên thống nhất dùng đô la Mỹ làm đồng tiền trao đổi. DN nhập khẩu tại VN sẽ phải trình hợp đồng đó cho ngân hàng để có thể vay hoặc mua USD. Sau đó DN sẽ chuyển khoản cho ngân hàng của bên xuất khẩu TQ.

Ngược lại, khi DN VN là đơn vị xuất khẩu thì tiền USD sẽ được chuyển vào tài khoản tiền ngoại tệ của DN Việt Nam. DN VN lúc này có các phương án sau:

  • Để tiền đó trong tài khoản ngoại tệ lấy lãi ngân hàng (theo đô la Mỹ).
  • Dùng tiền đó để nhập khẩu hàng hóa.
  • Bán cho NH chuyển sang VNĐ

Doanh nghiệp, cá nhân có thể  rút đô la mỹ ra khỏi tài khoản, tích trữ vận chuyển ngoại tệ (Điều 24) nhưng không thể dùng nó để trao đổi hàng hóa (điều 22). Khi muốn bán ngoại tệ thì phải bán cho tổ chức tín dụng được phép.

Ngoài các hình thức trao đổi hai chiều như trên còn có trao đổi một chiểu ví dụ như nhận kiều hối từ nước ngoài, chuyển tiền thanh toán tiền du học, chuyển lợi nhuận về nước,..

Ngân hàng nhà nước sẽ quản lý rất chặt việc mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài; bạn phải chứng minh được mình sẽ dùng cho mục đích gì thì mới được mua. Bên cạnh đó, NHNN sẽ kích thích DN, cá nhân chuyển tiền đô sang VNĐ bằng cách để lãi tiền gửi USD thấp còn VNĐ cao sao cho (Chênh lệch lãi tiền gửi giữa USD và VND) >> Biến động tỷ giá USD/VNĐ. Trước khi pháp lệnh ngoại hối ra đời 2005 thì đồng USD vẫn dùng để định giá, trao đổi hàng hóa nhưng sau đó bị cấm. Với các áp lực trên thì DN, cá nhân sẽ thích giữ VNĐ hơn là USD nhờ vậy chính phủ có thể dự trữ nhiều USD nhằm điều tiết tỷ giá.

2. Thực tế diễn ra

Có nhiều cách để tiền ngoại tệ chảy ra khỏi đất nước hoặc chảy vào đất nước mà nhà nước không kiểm soát được.

Bạn có con du học tại Trung Quốc và cần chuyển USD cho con mình. Cách đơn giản nhất là tới gặp bà A, bà A này có một đối tác là bà B tại Trung Quốc. Bạn đưa cho bà A 5000 USD hoặc tiền đồng tương ứng cùng ít chi phí; bà A gọi điện cho bà B tại TQ, bà B đưa cho con bạn 5000 USD. Giao dịch diễn ra trong vài phút. Lý tưởng nhất là hai bà A và B này sẽ có hoạt động chuyển qua lại cân bằng nhau, nếu không thì ghi nợ để một ngày đẹp trời nào đó chuyển trả USD vật chất bằng cách nào đó.

Quy trình này chẳng khác mấy việc bạn thanh toán mua hàng online một món hàng tại Mỹ dùng thẻ visa của BIDV. Ngân hàng BIDV và ngân hàng bên Mỹ đó sẽ có tài khoản ghi nợ của nhau; chỉ khi chênh lệch lớn thì tiền vật lý mới thực sự chảy ra hay vào còn không thì chỉ là con số lên xuống trong tài khoản.

Hàng hóa nhập lậu (Vàng, xăng dầu, ma túy,…..) cũng khiến cho ngoại tệ chảy ra khỏi đất nước mà không “quan sát được”. Vài năm trước đây có hiện tượng vàng trong nước cao hơn vàng thế giới rất nhiều thì đô la chợ đen tăng lên rất cao (bởi cầu tiền cho nhập lậu vàng tăng). Giữa giá bán niêm yết của ngân hàng và giá chợ đen chênh nhau rất lớn. Ngược lại khi giá xăng dầu trong nước được chính phủ trợ giá tạo ra khoản chênh lớn với nước ngoài (tất nhiên là các nước có biên giới với nước ta) thì một lượng ngoại tệ được chảy vào trong nước, được găm trong các két sắt của người dân. Những giao dịch kiểu này thường dùng tiền mặt (tiền vật chất). Tất cả những thứ không quan sát được đó tạo ra mục sai số trong Bảng cán cân thanh toán.

Thực tế, giữa biên giới Việt – Trung người dân cả hai nước đã chấp nhận tiền của nhau rồi. Khi bạn sang Trung quốc mua cái nồi cơm điện, bạn có thể dùng VNĐ, NDT hoặc USD; kiểu gì cũng được. Người mua sẽ đưa ra một tỷ giá quy đổi có lợi cho họ. Họ tích trữ hoặc bán nó ở thị trường chợ đen để chuyển sang loại tiền mà họ thích. Đây là giao dịch dân sự, họ thấy lợi thì họ làm vì vậy chẳng ai kiểm soát nổi. Tương tự, nếu bạn mua một cái xe máy từ thằng bạn, bạn có thể trả nó tiền bạt thái cũng được, miễn là nó chấp nhận và tiền là tiền mặt; chẳng có ai bắt được bạn để mà phạt.

3. Còn cái vụ ngày hôm qua khi một ông bị phạt 90 triệu khi bán 100 usd

Rõ ràng là hoạt động trao đổi dân sự bằng ngoại tệ mặc dù bị cấm nhưng cực khó phát hiện. Thay vì cố gắng phát hiện thì biện pháp tốt nhất là răn đe. Bán 100 usd, phạt 90 triệu là hình thức răn đe, giúp rất nhiều người dân hiểu rằng việc dùng USD làm phương tiện thanh toán là phạm luật và muốn mua bán USD phải ra các tổ chức tín dụng được phép.

Sự kiện đó là việc nên làm để mang lại lợi ích cho đất nước; đừng bàn cãi loanh quanh cái sự kiện đó là có 100 USD mà phạt người ta 90 triệu.

4. Vậy thông tư 19 nói về cái gì

Thông tư là văn bản hướng dẫn dưới luật có nghĩa rằng đã có một hệ thống các văn bản trên nó quy định trước đó; thông tư này chỉ là hướng dẫn thôi. Các ý chính:

  • Phạm vi điều chỉnh: cho thương nhân, cư dân biên giới phục vụ cho việc trao đổi hàng hóa dịch vụ tại chợ biên giới.
  • Đồng tiền thanh toán là VNĐ hoặc NDT (CNY).
  • Cho phép thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Giới hạn tại ngân hàng biên giới.
  • Quy định về thủ tục khi phía TQ thanh toán bằng tiền mặt hay CK (và ngược lại) đối với hai bên là thương nhân (Chương II)
  • Quy định đối với tình huống 1 trong hai bên là cư dân biên giới same với thương nhân (Chương III)
  • Chương IV chủ yếu quy định về ngân hàng biên giới hai nước giống như ví dụ về bà A và bà B ở trên. Hai bên mở tài khoản NDT, VNĐ để bù trừ nhau. Trường hợp chênh lệch cần chuyển tiền vật chất thì thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu tiền mặt NDT hoặc VNĐ.

Như vậy thông tư này có khác biệt gì so với các quy định khác về quản lý ngoại hối?

  • Cho phép giao dịch NDT tại biên giới phía VN (nhưng với các điều kiện là phải có trao đổi hàng hóa qua biên giới )và đương nhiên phía TQ cho phép VNĐ được giao dịch tại biên giới phía TQ với điều kiện tương tự.

Thực tế việc này vẫn diễn ra hàng ngày, thông tư này thực tế chỉ là văn bản hóa một thực tế sẵn có nhưng có giới hạn. Biến một hoạt động vẫn diễn ra hàng ngày trái pháp luật (nhưng không thể kiểm soát) thành một hoạt động hợp pháp có thể quan sát để quản lý.

5. Phân tích về quan điểm phản đối

Tiền có 3 chức năng chính là 1. Đo lường giá trị, 2. Phương tiện trao đổi và 3. Dự trữ về mặt giá trị. Pháp luật không cấm chức năng 1 và 3 đối với ngoại tệ nhưng lại cấm chức năng 2.

Mỗi một đất nước đều phát hành tiền pháp định của nước mình và họ phải quản lý được để có thể thực hiện các chính sách tiền tệ (điều tiết cung tiền). Ngân hàng nhà nước đương nhiên không cho phép một đồng tiền nước khác được phép trao đổi trên đất nước VN. Vậy ý kiến “bình thông nhau” có nguy hiểm không?

Trước hết phải xem nhu cầu của người dân có muốn dùng nhân dân tệ để trao đổi hàng hóa trong nước không đã. Bạn thích nhận tiền bán hàng bằng VNĐ hay NDT hay USD? Chắc là VNĐ rồi vì nếu bạn nhận USD hay NDT bạn phải ra ngân hàng đối sang VNĐ. Bạn giữ NDT trong túi làm gì khi không thể tiêu dùng được và cũng không tích trữ được giá trị khi mà lợi ích từ tiền gửi ngân hàng VNĐ còn cao hơn.

Cho dù cái đất nước này ngập ngụa tiền nhân dân tệ cũng chẳng sao, miễn là người dân không có nhu cầu với nó thì tiền đó cũng chỉ là giấy vụn. Và quan trọng hơn nếu bị tịch thu và bị phạt khi dùng nhân dân tệ trao đổi thì bố bạn cũng không dám. Chưa kể dân ta vốn đã không ưa gì nước bạn rồi.

NHNN không hề cho phép NDT được trao đổi trên đất nước VN mà chỉ cho trao đổi giữa hai đối tượng của hai quốc gia. Nếu hai đối tượng đó của cùng một quốc gia VN (cho dù là ở 7 tỉnh biên giới) thì mời bạn nộp phạt. Mấu chốt ở đây là NHNN không cho phép mua bán hàng hóa diễn ra trong nước bằng ngoại tệ bao gồm cả nhân dân tệ. Vì vậy ý 2 và 3 của BBC rất vô lý.

Chúng ta để ý là phương thức của cư dân không cho dùng NDT trao đổi trên lãnh thổ VN

Đối với thương nhân thì cũng chẳng khác mấy quy định chung; chỉ khác là quy định rất chặt trong phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Và quan trọng nhất là phải có hàng hóa dịch chuyển qua biên giới chứ không phải hàng hóa ở trong nước các ông mua bán với nhau bằng nhân dân tệ.

Ý 4 của BBC có vẻ hợp lý về mặt lý thuyết khi đồng nhân dân tệ bị phá giá thì hàng hóa của TQ sẽ rẻ đi so với hàng hóa VN. Trung quốc có phá giá nhân dân tệ không? Trong bài chiến tranh tiền tệ tôi có phân tích về con dao hai lưỡi của việc phá giá; lợi bất cập hại. Thực sự cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung quốc là lợi hay hại cho VN cực khó dự đoán. Lợi là dòng vốn có thể dịch chuyển sang VN để trú ẩn nhờ vậy VN hưởng lợi; hại là thâm hụt thương mại VN-TQ có thể trầm trọng hơn khi hàng hóa TQ trở nên rẻ hơn và vì không sang được Mỹ nó đổ sang VN.

Thực tế toàn bộ các đồng tiền Châu Á và các đồng tiền nước khác đều giảm giá so với USD thời gian qua khi đồng USD ngày càng mạnh hơn. Mặc dù vậy thì mức độ giảm so với USD cũng có khác nhau; tất nhiên giảm nhiều nhất phải là NDT. Đồng NDT đã mất giá 5,22% so với đồng USD từ đầu năm đến ngày 21/9/2018, tương ứng từ mức 6,5066 USD/CNY tăng lên mức 6,8461 USD/CNY. Tính từ đầu năm đến 21/9/2018, tỷ giá USD/VND đã tăng 2,8%, tương ứng từ mức 22.735 USD/VND lên mức 23.370 USD/VND; Tỷ giá CNY/VND giảm 1,4%, tương ứng ở mức 3.496 CNY/VND giảm còn 3.447 CNY/VND.

Nhưng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung chẳng liên quan gì tới cái thông tư 19 cả. Cho dù không có thông tư 19 thì cuộc chiến vẫn diễn ra và đồng nhân dân tệ vẫn mất giá trước USD và cả VNĐ.

Chúng ta cần chú ý là trước đây nước ta là nước nghèo vì vậy ưu tiên số một là “rẻ”; giờ đây ưu tiên số 1 là an toàn, chất lượng, đẹp vì vậy hàng hóa TQ nếu kém chất lượng cũng chẳng dễ gì bán ở VN.

Túm lại:

  • Thông tư 19 chỉ là quy định rõ ràng hơn của các văn bản trên nó. Mấu chốt vẫn là không cho phép dùng ngoại tệ để trao đổi hàng hóa trong nước, cho dù đó là 7 tỉnh biên giới.
  • Những gì đã diễn ra thì đã diễn ra rồi. TT19 chỉ là quy định hóa giúp cho việc quản lý của cơ quan nhà nước và buôn bán của người dân dễ dàng hơn.
  • Việc dùng nhân dân tệ làm công cụ định giá, công cụ trao đổi hay công cụ tích trữ giá trị là hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của người dân. Người dân hành xử theo lợi ích/ chi phí; NHNN sẽ điều chỉnh lợi ích luôn lớn hơn chi phí để người dân không muốn, không thể dùng ngoại tệ nói chung, NDT nói riêng.
  • Khó mua USD và dễ bán USD là chẳng sai vì NHNN cần tạo nhiều rào cản để đô la khó chảy ra ngoài VN và dễ chảy vào VN. Đó là vì lợi ích bảo vệ đồng tiền quốc gia. Nếu bạn yêu nước thì cho con học tại VN, mua hàng hóa VN, đi du lịch tại VN.
  • Chính phủ dùng hai công cụ chính để điều tiết nền kinh tế là chính sách tài chính và chính sách tài khóa. Chẳng ai dại gì mất quản lý tiền để mất đi công cụ chính sách tiền tệ cả.
  • TT19 có vi hiến không? Đương nhiên không.

Comments

comments

LEAVE A REPLY