Bàn về động lực (P3: Mặt trái của mục tiêu trong tạo động lực)

0
2902

Bàn về động lực (P1: Động lực nội tại)

Bàn về động lực (P2: Từ động lực 1.0 tới động lực 3.0)

Thuyết động lực 2.0 phụ thuộc rất nhiều vào sự đo đếm trong đó việc xác định mục tiêu là vô cùng quan trọng. Không có mục tiêu thì đừng bàn tới chuyện đo đếm để mà thưởng hay phạt. Trong cuộc sống việc xác định mục tiêu 5 hay 10 năm tới cũng được coi là quan trọng không thể thiếu đối với những người muốn thành công.

Ích lợi của việc xác định mục tiêu là quá rõ ràng rồi, chẳng thế mà người ta đã nói không lập kế hoạch (để đạt mục tiêu) là lập kế hoạch cho thất bại. Không đặt ra mục tiêu thì biết khi nào đạt mục tiêu?  Không mấy ai chê việc xác định mục tiêu vì vậy entry này giúp chúng ta nhìn nhận mặt trái của việc xác định mục tiêu theo quan điểm Động lực 3.0.

1. Khó khăn trong xác định mục tiêu đúng

Ta có một cái xe máy đạt tốc độ tối đa 80 km/giờ. Mục tiêu là đi tới Hải Phòng trong vòng 2 giờ. Mọi thứ khá rõ ràng các yếu tố tác động đều có thể dự đoán như tắc đường ở đâu, vận tốc tối đa mỗi đoạn đường là bao nhiêu, thời tiết hiện như thế nào,…Việc xác định mục tiêu là đúng nghĩa SMART.

Giá mà mọi thứ đều đơn giản như vậy. Một mục tiêu phải đảm bảo yếu tố SMART trong đó có hai yếu tố là 1. Khả thi và 2. Đủ tham vọng để có tính kích thích là hai yếu tố khó cân bằng. Chúng ta sẽ hoặc là chọn một mục tiêu quá dễ để khả thi hoặc là chọn một mục tiêu bất khả thi để đủ tham vọng.

impossible-picture

Trong thực tế các mục tiêu vĩ mô như tăng trường GDP, số việc làm mới, lạm phát, tổng thu và chi,… cũng thường xuyên là hoặc quá dễ hoặc không đạt được. Tới những mục tiêu trong cuộc sống của chúng ta cũng ít khi khớp với đúng thực tế, hoặc là ta đạt nó sớm hơn rất nhiều so với dự định hoặc là không đạt được.

Nhưng tại sao người ta vẫn cứ đưa ra mục tiêu? Vì cho dù không đạt được mục tiêu thì chúng ta cũng đạt được một cái gì đó còn hơn là đi trong vô định chẳng biết là đi Hải phòng hay đi Đà Nẵng. Mục tiêu ở đây gần như mục đích nhưng mà mang tính định hướng và kích thích hơn.

2. Mục tiêu nuôi dưỡng những hành động phi đạo đức.

Trong công việc chúng ta luôn luôn phải đối mặt cân bằng giữa “Cái tôi có thể làm được” và ” Cái tôi phải làm”. Khi chính người thực hiện đưa ra mục tiêu thì đương nhiên nó phải nằm trong vùng có thể thực hiện được cộng thêm một khoản nong đen. Cuối cùng mục tiêu trở thành quá dễ thực hiện, không có tính kích thích.

Để xác định được mục tiêu đúng thì thường phải xuất phát từ chính người thực hiện vì vậy chúng ta khó mà thoát khỏi rủi ro này.

Nếu có hai mục tiêu; mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu trung hạn. Thì người thực hiện sẽ chỉ tập trung để đạt được mục tiêu ngắn hạn còn mục tiêu trung hạn thì vì chưa tới nên cũng không quan tâm. Vì vậy người thực hiện sẽ bằng mọi giá để đạt được mục tiêu bao gồm cả những hành vi phi đạo đức như gian lận, không để tâm tới hậu quả dài hạn mà chỉ quan tâm tới kết quả trước mắt.

Illegal-move

3. Mục tiêu làm giới hạn tầm nhìn

Khi đặt ra mục tiêu ta sẽ hướng mọi sự tập trung vào nó và khiến bỏ quên các cơ hội khác. Một người đặt mục tiêu 3 năm tới phải trở thành luật sư thì trong 3 năm đó anh ta sẽ không quan tâm tới các cơ hội ngành nghề khác trong khi có thể đó có thể là một ngành nghề phù hợp với anh hơn, cho anh những cơ hội tốt hơn. Đây là còn chưa bàn tới mục tiêu trở thành luật sư trong 3 năm tới kia có thực sự đúng đắn không hay là một  quyết định đưa ra một cách vội vàng.

Mục tiêu cũng làm giới hạn khả năng sáng tạo. Mục tiêu phải đi cùng kế hoạch thực hiện và được kiểm soát chặt chẽ để đừng có đi lệch ra. Khi mọi thứ đã thành kế hoạch thì cứ thể mà thực hiện và người ta sẽ không để tâm tới sáng tạo ra cách làm mới hay những thứ hay ho khác nữa vì những cái đó có thể làm mất thời gian của anh ta trong khi về ngắn hạn không giúp anh ta đạt mục tiêu.

curved-road-on-white

4. Mục tiêu đặt ra làm cản trở khả năng thực hiện

Có bao giờ bạn đặt ra mục tiêu 3 tháng tới mà bạn bắt tay ngay thực hiện vào ngày mai không? Thực tế là người ta thường nước đến chân mới nhảy,  tới sát thời hạn cuối thì mới bắt tay vào làm và thường là vỡ kế hoạch.

Khi thời gian trôi đi công việc chẳng tiến triển là bao thì chúng ta thường ngụy biện là mình sẽ gấp rút làm vào khoảng thời gian cuối khi đỡ bận hơn. Và cuối cùng khi sát tới ngày phải đạt mục tiêu thì chúng ta tìm cách thay đổi mục tiêu như kéo dài thời gian thực hiện hay giảm mục tiêu xuống để nó trở thành khả thi.

Khi có mục tiêu thường thì có cái gì đó thúc vào ta, ép ta phải làm. Đó là mặt tích cực của mục tiêu nhưng vấn đề đó là động lực ngoại sinh bao gồm thưởng và phạt. Khi trong đầu chúng ta luôn hằn lên một mục tiêu, cuống cuồng cuồng lên vì mục tiêu thì chúng ta sẽ ở trạng thái căng thẳng và vì vậy chất lượng công việc của chúng ta sẽ bị giảm.

Động lực 3.0 không bác bỏ ích lợi của mục tiêu nhưng đề cao tới tiến trình hơn. Nó được phát biểu như là Hạnh phúc không phải là đích đến mà nó là quá trình trên đường đi.

Ví dụ : Mục tiêu là phải đạt được điểm 10 môn toán và mục tiêu trở thành học sinh giỏi toán rõ ràng là khác nhau. Người có mục tiêu điểm 10 sẽ bằng mọi cách để đạt được thậm chí có thể là quay bài. Còn mục tiêu trở thành học sinh giỏi toán sẽ kích thích học sinh theo tiến trình, học sinh đó sẽ tìm những lời giải mới mà có khi điểm số không cao nhưng sẽ giúp cho học sinh đó hiểu hơn và tăng tính sáng tạo hơn. Về lâu dài học sinh theo mục tiêu 2 sẽ trở nên giỏi thực sự.

Trong cuộc sống nếu như bạn không thể đặt cho mình mục tiêu 3 năm tới mình phải như thế nào một cách SMART thì đừng ngại; có một cách khác để làm điều đó. Hãy chỉ xác định mục đích sau đó đưa ra triết lý “Chúng ta phải tiến tới mục đích đó hàng ngày và tận dụng mọi cơ hội có thể có”. Nếu như một ngày bạn thấy mình không nhích thêm được tí gì thì cần phải xem lại.

Triết lý hướng tới tiến trình này không bác bỏ tầm quan trọng của việc đặt mục tiêu mà là chúng ta đừng có đặt nặng vấn đề mục tiêu. Mục tiêu chỉ giúp ta có một cái nhìn dài hạn, giúp chúng ta không bỏ xót cái gì nhưng đừng quá coi trọng nó. Sự cố gắng theo tiến trình sẽ tạo cho ta động lực nội tại còn mục tiêu thì thường gắn liền với phần thưởng và khoản phạt là những động lực ngoại sinh.

Trong thực tế người ta đã thống kê các công ty đặt ra mục tiêu, có thưởng có phạt thường đạt lợi ích trong ngắn hạn nhưng về dài hạn thì phát triển không bằng các công ty đưa ra cách làm hướng tới động lực nội tại hơn.

Comments

comments

LEAVE A REPLY